Vô minh & khoa học não bộ

Vô minh là một danh từ phát xuất từ Phật giáo. Dân gian ai đi chùa thì ít ra cũng quen thuộc với khái niệm “tham, sân, si”. Si mê hay vô minh nói lên một tâm trạng thiếu sáng suốt đưa đến những hành động tội lỗi trái luân lý.  

Khi học đạo, người ta nghĩ rằng vô minh chỉ là một khái niệm có lẽ nghiêng về luân lý (ethics) nhiều hơn là khoa học. Gần đây, khi khoa học và tâm lý học phát triển, người ta mới bắt đầu hiểu rằng vô minh có cơ sở khoa học.    

Ở loài người, nguồn gốc của vô minh có thể giải thích qua sự phát triển của não bộ. Khi các nhà nhân chủng học (anthropologist) nghiên cứu sự phát triển não bộ của con người qua hàng triệu năm, bằng cách đo xương sọ từ đó suy ra dung tích của não bộ, thì nhận thấy rằng sự khác biệt giữa loài người có văn minh và loài khỉ là ở vỏ não (cortex). Não của loài người có 2 phần, phần nằm trong sâu gọi là hệ thống limbic (limbic system), phần này mọi sinh vật đều có, và phần vỏ não phát triển tột bực ở loài người.  

Hệ thống limbic là vùng não phát triển rất sớm, nghiêng về tình cảm và bản năng. Nhờ có bản năng nên con người nguyên thủy mới có thể sống sót và truyền giống nòi. Nói cách khác, khi đứng trước thức ăn mà không thèm ăn, gặp người khác phái mà không có ham muốn tình dục và khi gặp kẻ thù ăn cắp thức ăn và bắt cóc vợ con mà không giận dữ thì loài người sẽ mất sự tồn tại trên thế gian và mất khả năng truyền gene lại cho thế hệ sau. Ở loài khỉ, con khỉ đực nào có nhiều testosterone (kích thích tố nam), chiến đấu chống lại những con khỉ đực khác (sân) thì sẽ có vị trí đầu đàn và có quyền giao hợp với nhiều khỉ cái (tham). Hiểu như thế, tham và sân là bản năng để con người tiền sử sống còn. Ở thế giới động vật bản năng tự nó điều chế. Thức ăn nhiều thì sinh sản nhiều, thức ăn ít thì ham muốn sinh dục ít đi và sinh sản bớt lại.  

Khi não bộ chưa phát triển và loài người tiền sử sống với sự điều khiển của bản năng thì chiều hướng của bản năng là bảo vệ sự sống còn của giống nòi. Tuy nhiên, trên đà tiến hóa của não bộ thì phần vỏ não (cerebral cortex) phát triển rất nhanh, nhờ đó tạo cơ hội cho sự phát triển của ngôn ngữ và ý thức (consciousness). Ý thức được khoa học định nghĩa là sự nhận thức ra cá nhân và cá nhân đó khác biệt với người khác. Khi ta nhìn ta trong gương, ta nhận ra hình ảnh của chính mình, đó là ý thức cá nhân. Hình ảnh của người kế bên không phải là ta. Sự phân biệt so sánh này là nguồn gốc của cái “tôi”. Bản chất của cái tôi là ý muốn khác biệt và hơn trội người khác. Cái tôi gây ra rất nhiều vấn đề chúng ta sẽ đề cập ở phần sau.

Cũng vào thời điểm này, những bộ lạc dần dần sống chung thành một xã hội. Nhờ vỏ não phát triển nên con người nguyên thủy có sự sáng tạo quy ước dùng một âm thanh để diễn tả ý nghĩ và tình cảm. Ngôn ngữ là âm thanh, phát ra rồi mất đi. Người ta chế ra chữ viết để lưu truyền ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ, chữ viết và đời sống xã hội nên những phát minh mới và hiểu biết mới của một người được nhiều người áp dụng và biến chế tốt hơn. Ðây là nền tảng của khoa học. Nhờ có chữ viết nên kiến thức được lưu lại sau khi con người qua đời. Nhờ vậy, sự hiểu biết của loài người lưu truyền được và phát triển cực kỳ nhanh. Giả sử ta có một thần đồng sống biệt lập trong rừng thì những phát minh khoa học sẽ không có phương tiện phát triển thành sản phẩm khoa học.  

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của vỏ não và sản phẩm của nó là ngôn ngữ và khoa học kỹ thuật cũng có những cái hại của nó. Con người không biết tự điều hòa như thiên nhiên. Con người có sự ý thức để hiểu biết thiên nhiên, tuy nhiên sự phát triển vượt bực của ý thức không đi đôi với sự trưởng thành của tình cảm. Từ đó mà những sản phẩm của khoa học kỹ thuật có thể làm đảo lộn cái trật tự quân bình của thiên nhiên. Hồi xưa, với cây búa rìu, muốn đốn cây thì không đốn được bao nhiêu nên thiên nhiên được bảo tồn. Ngày nay, với công cụ tối tân, người ta có thể đốn hết khu rừng trong nháy mắt. Ðây mới là cái tham, sân, si mà tôn giáo đề cập đến và con người cần thay đổi.  

Cái phản ứng phụ của trí khôn là cái ý muốn sở hữu. Con người muốn sở hữu đồng loại và thiên nhiên. Ngay từ thời nguyên thủy, những bộ lạc thắng trận thường bắt những người thua trận làm nô lệ cho mình. Ðiều này xảy ra cho tới thế kỷ thứ 19 với người da đen làm nô lệ cho chủ đồn điền da trắng. Trong tình yêu, ta muốn giữ người ta yêu cho riêng mình. Cha mẹ muốn con cái làm theo ý mình. Nếu con cái không theo thì đôi khi cha mẹ từ con ra và gán cho con cái tên hư hỏng. Trong tôn giáo, kẻ không cùng tín ngưỡng là kẻ ngoại đạo. Ở thiên nhiên, cái sở hữu quá độ như đốn rừng hay lưới cá một cách cẩu thả ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh hóa.  

Ngoài ra, con người còn muốn sở hữu năng lượng (đất và nước) của quả địa cầu, chia ranh giới và gây ra tranh chấp. Ðối lập và xung đột là sản phẩm của trí khôn và của cái tôi. Khi trí khôn phát triển, con người muốn mình khác với người khác vì đặc tính của trí khôn là sự sáng tạo. Nhưng sự sáng tạo này nằm trong một khuôn khổ cứng rắn. Khi ta gắn một tính từ đúng sai hay xấu tốt lên một người nào đó thì ta mất cái khả năng nhìn sự thật. Ta chỉ thấy trắng hay đen. Ta thương người theo mình (tham) và ghét bỏ người không theo mình (sân). Ta mất cái nhìn trung dung.  

Mất khả năng nhìn sự thật khách quan và muốn vũ trụ xoay quanh theo ý mình là nguồn gốc của vô minh và cũng là nền tảng của cái tôi. Một người có thể khôn xuất chúng nhưng vẫn có thể bị màng vô minh che đậy tâm trí. Sự nhận thức và bỏ theo quỹ đạo của cái tôi tạo ra vô số mâu thuẫn căng thẳng trong nhiều lãnh vực: gia đình, xã hội, chính trị và tôn giáo. Trong vô minh, con người có thể dùng trí khôn biện hộ cho hành động sai lầm thay vì dùng trí khôn giúp mình thay đổi để đáp ứng hoàn cảnh. Khi chưa được cái mình muốn, con người sinh ra lòng tham và khi mất cái mình được thì sân hận.  

Ðộc giả hãy thử phân tích hoàn cảnh này xem sao. Ông A di du lịch và làm quen được với ông B. Hai người nói chuyện, trao đổi với nhau vui vẻ. Một ngày nào đó đất nước ông A và ông B trở thành thù nghịch. Hai người bị động viên. Khi khoác áo nhà binh lên người thì 2 người trở thành thù nghịch và sẵn sàng giết nhau, mặc dù không có mối hận thù cá nhân riêng biệt. Như thế mới hiểu được cái tai hại khi chúng ta gán cho người khác cái nhãn hiệu mà không hiểu được sự thật. Chuyện như thế xảy ra rất nhiều và thịt rơi, máu đổ cũng vì hiểu lầm.  

Nhìn lại lịch sử con người, ta thấy những trường hợp như vậy xảy ra rất thường xuyên. Khi một chính phủ hay một cơ quan tôn giáo xác nhận một nhóm người khác là “kẻ thù” hay “ngoại đạo” rồi thì sự sát nhân hàng loạt xảy ra rất dễ dàng. Thời Trung cổ có tòa án dị giáo (inquisition tribunal) giết chết hàng loạt người không theo Thiên Chúa giáo, rồi đến Thánh chiến (Crusade). Thời thực dân (colonial), người da trắng coi người da đen là dòng giống kém và đến châu Phi bắt cóc họ làm nô lệ cho các đồn điền. Vào đệ nhị thế chiến, Hitler ra lệnh giết hàng loạt người Do Thái (holocaust). Gần đây hơn thì chế độ kỳ thị Apartheid ở Nam Phi vẫn không công nhận quyền lợi bình đẳng của người da đen.  

Sở dĩ vô minh xảy ra vì tư tưởng và trí khôn loài người chưa phát triển để đạt đến khả năng trực nhận thực tế (danh từ Phật giáo gọi là giác ngộ). Sự truyền đạt thông tin của tư tưởng rất hạn chế. Có lẽ vì thế con người thích có một khuôn mẫu hiểu biết có sẵn để nương theo. Ở những xã hội sơ đẳng (lúc đó chưa có những phương tiện truyền thông như TV và radio) thì ca dao tục ngữ là những công thức cho dân gian kém học thức nương nơi đó mà cư xử với nhau cho thích hợp. Ngoài ca dao tục ngữ thì có những chuyện cổ tích để cho người ta noi theo gương tốt. Những phương pháp truyền đạt kiến thức kể trên rất đơn sơ và chỉ thích hợp với một số nhỏ người, hạn chế ở địa lý cư ngụ của những người đó. Thí dụ như ca dao về mùa màng ở miền nhiệt đới không thích hợp với dân miền ôn đới.

Ðộc giả nên phân biệt giữa hiểu biết và diễn đạt hiểu biết. Hiểu biết của ông thầy có thể diễn ra trong nháy mắt, nhưng khi người thầy giáo dùng tư tưởng, suy nghĩ để giải thích sự hiểu biết đó cho học sinh thì phải mất nhiều thời giờ hơn. Ngoài ra, sự truyền đạt hiểu biết qua tư tưởng và lời nói không thể nào trung thực và đạt được 100% dữ kiện chứa trong cái trực hiểu của ông thầy.

Tệ hơn, đôi khi người nói một đường, kẻ hiểu một ngả. Càng cố chấp trên suy nghĩ thì sự hiểu lầm càng sâu hơn. Nếu người sở hữu kiến thức (trò) áp dụng một cách cứng rắn thì khả năng đáp ứng thực tế của họ càng kém hơn người (thầy) tạo ra kiến thức đó. Vì thế, muốn xã hội tiến bộ thì trò phải hơn thầy. Nếu ông thầy sợ học trò hơn mình và không truyền đạt hết kiến thức, và người học trò không hiểu hơn thầy mình thì xã hội sẽ đi lùi. Hiểu như thế, tinh thần vô ngã là thái độ cần có để xã hội phát triển.

Các mạch thần kinh ở não bộ con người khác với mạch máu. Mạch máu có đường đi nhất định. Những mạch thần kinh có khả năng kết nối với nhau một cách uyển chuyển (plasticity of the nervous system). Những người bị tai biến mạch máu (stroke), mất hết một phần của não bộ nhưng vẫn có thể phục hồi một phần nào chức năng cơ thể vì các tế bào thần kinh ráp nối với nhau tạo ra mạch thần kinh mới để thông qua những tế bào thần kinh bị chết, từ đó bệnh nhân có thể sử dụng trở lại những bắp thịt bị tê liệt. Cũng như thế, khi ta không cố chấp thì khả năng kết nối của hệ thống thần kinh ta dồi dào hơn. Khi sự kết nối nhiều thì khả năng hiểu nhiều khía cạnh của một sự kiện tăng theo.

Khi chúng ta học hỏi và nhận thức một điều mới lạ thì những tế bào thần kinh sẽ liên kết với nhau nhiều hơn. Khi ta cố chấp vào một sự việc thì tế bào thần kinh không có sự ráp nối dồi dào, khiến ta không nhận biết được những dữ kiện khác của sự thật. Ta trở thành người mù sờ voi, chỉ thấy được một phần nhỏ của con voi và tranh chấp cãi lộn với những người khác thấy những phần khác của con voi. Vì thế, ở kẻ mê tín dị đoan, não bộ của họ mất sự uyển chuyển kể trên. Chính đây là nền tảng cơ sở khoa học não bộ của vô minh. Cái khó khăn là người vô minh không bao giờ nhận ra tâm trạng đó. Cũng giống như người bị điên (psychosis), cho rằng kẻ khác bất bình thường, còn mình thì hoàn toàn bình thường.

Làm sao ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của vô minh khi mà người vô minh không nhận ra họ bị vô minh. Rồi một nhóm người vô minh tranh cãi biện luận với nhau để giành phần đúng về mình. Họ tạo thành nhiều băng đảng chính trị, chủ nghĩa quốc gia hay niềm tin tôn giáo khác nhau. Suy nghĩ càng biệt lập và khác biệt thì lòng tin tưởng lẫn nhau giữa loài người suy giảm trầm trọng và lòng lo sợ, hận thù tăng hơn. Nếu sự lo sợ tăng đến nỗi người ta mất khả năng dùng lý trí để thay đổi nhận thức thì nó trở thành cực đoan và bịnh hoạn (paranoid delusion). Ðây là những cách người ta bảo vệ cái chủ nghĩa tư tưởng mà họ cho là đúng. Nói tóm lại, trong sự bảo vệ quá đáng đó, họ thiếu lòng tin và sự suy nghĩ sáng suốt một cách trầm trọng.

Hiểu như vậy thì không có gì lạ khi hai tôn giáo chính của thế giới đề cao lòng tin (Ki tô giáo) và suy nghĩ sáng suốt (Phật giáo). Chúa và Phật có thể được coi là những bậc thánh nhân và cũng là những bác sĩ tâm lý đại tài. Sở dĩ những ấn tượng trên tâm lý của hai đạo này tồn tại đến ngày nay, có lẽ vì các vị thánh nhân này đã thấu hiểu được căn bệnh về tâm lý của loài người và nói trúng tim đen của loài người. Những vị này muốn mở đường hướng dẫn nhân loại - nói theo khoa học não bộ ngày nay - sử dụng não bộ của họ một cách hữu hiệu để tránh loài người dùng trí khôn sáng tạo vũ khí tự tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt quả địa cầu. Khi trị được si mê thì tham và sân tự nó biến đi. Chính vì tham và sân là sự hiểu lầm do si mê gây ra.

Có cách nào nhanh nhất để trị cơn si mê, giấc mộng ngàn đời của nhân loại? Như ta thấy, khi nào con người còn có suy nghĩ đúng sai thì lúc đó sự tranh chấp sẽ không dừng. Suy nghĩ có thể vẽ ra ngàn lối khác nhau. Một khi suy nghĩ vẽ ra rồi thì ít khi nó chịu rời bỏ sản phẩm của nó. Con người phải tập vượt qua cái ý nghĩ chấp đúng sai. Con người phải tập lắng nghe chính mình và lắng nghe người khác. Chấp đúng sai là vội khóa mình trong một kết luận nông cạn. Khi còn suy nghĩ đúng sai thì cái suy nghĩ đó sẽ làm nhiễm (contaminate) cảm nhận sự thật. Suy nghĩ là hình bóng chứa dữ kiện của một hiện tượng đã qua. Khi ta giữ cái hình bóng đó trong tâm thì sự đáp ứng tức thời và khả năng nhận ra sự thật bị giảm đi rất nhiều.

Thí dụ như ông A vừa mới cãi lộn xong với vợ mình và bực bội lái xe ra khỏi nhà. Trong tâm trí ông còn những suy nghĩ lẩn quẩn về câu chuyện không vui vừa xảy ra. Tâm ông bị phân trí và suýt nữa ông vượt đèn đỏ gây ra tai nạn. Khi vào sở, ông nạt nộ với nhân viên trong sở gây ra nhiều căng thẳng. Ở trường hợp trên, ông A vì suy nghĩ về chuyện quá khứ nên mất khả năng nhận ra hiện tại, như đèn đỏ và không đáp ứng với hoàn cảnh hiện tại trong sở (nhân viên không có lỗi lầm mà bị nạt).

Ở mọi hoàn cảnh trong cuộc sống, nếu ta làm chủ được những dòng tư tưởng suy nghĩ hiện ra trong đầu, không dùng những dữ kiện của quá khứ để đối phó với hiện tại hay phỏng đoán tương lai thì khả năng nhận thức tức thời tại thời điểm hiện tại (here and now) sẽ rất nhạy. Phát triển cái nhận thức tức thời không qua suy tư được gọi là thiền. Nghiên cứu cho thấy não bộ con người phản ứng với những hình bóng suy nghĩ dựng ra y như sự thật trước mặt. Rồi như thế chưa đủ, con người cố gắng diễn tả những hình bóng suy nghĩ đó bằng nghệ thuật điện ảnh. Khán giả thật sự vui buồn với cái ảo giác. Nếu ai cũng xem cái thực tế của phim ảnh là những hình bóng màu mè phản chiếu lên màn ảnh thì công nghiệp điện ảnh sẽ bị phá sản từ lâu rồi.

Bây giờ độc giả hãy tưởng tượng rằng chỉ có một màn ảnh mà có đến nhiều người muốn đồng lượt chiếu phim của mình lên trên đó. Như thế những hình bóng trên màn ảnh rất rối loạn, chính sự rối loạn đó là vô minh. Ai cũng muốn la lớn là tôi hay, tôi đúng, mọi người nên theo tôi. Không ai nghe ai và không ai chịu khó tìm hiểu người khác. Ðó là vô minh. Ðây là thảm trạng của xã hội hiện giờ, sự thành công được đo bằng mình trội hơn người khác. Có ai biết tại sao sản phẩm tiện nghi của khoa học càng nhiều, nhưng ngược lại với dự đoán, stress và những bịnh do căng thẳng tinh thần xảy ra nhiều hơn chăng? Bây giờ muốn cho mọi người nhìn thấy ánh sáng thì chúng ta phải tắt hết phim lại.

Tắt hết phim lại là để cho tâm tĩnh lặng. Khi tâm tĩnh lặng rồi thì người ta mới có cơ hội cùng nhìn về một hướng và hiểu một chuyện. Nếu tâm loạn động thì chỉ có hai người thôi mà xảy ra biết bao nhiêu chuyện phức tạp. Chỉ có một chuyện mà bị méo mó biến ra mười chuyện khác nhau. Cho nên để tâm tĩnh lặng thì màn vô minh bị mỏng dần và khả năng nhận định sự thật và thông cảm lẫn nhau tăng hơn. Khi vô minh mỏng dần thì tham biến thành trí tuệ thích hiểu biết và sân biến thành sự dũng cảm dám thay đổi tính tình (tu). Khi vô minh mỏng dần thì não bộ sẽ có khả năng kết nối với những vùng mới lạ. Và từ đó đời sống tâm linh của nhân loại sẽ được phát triển và phong phú hơn.

Tâm tĩnh lặng không phải là một cái gì trừu tượng mà hiện nay khoa học có thể dùng điện não đồ EEG để đo được. Khi ta thư giãn để tâm tĩnh lặng thì tần số rung động của não bộ giảm xuống khoảng 8- 10 Hz, tần số này gọi là tần số Alpha. Những nghiên cứu cho thấy não bộ hoạt động hữu hiệu nhất ở tần số này. Ðây cũng là cái tần số của tâm “vô ngã”. Ðó là một tâm trạng sáng suốt với ý thức mở rộng để hiểu mình và hiểu người. Khi ta tập tâm tĩnh lặng ở tần số này, để mặt trời ý thức hiện ra thì những tư tưởng mây đen cố chấp của vô minh sẽ ít dần. Chúng ta rất may mắn sống ở thời điểm này. Với những kiến thức mới của khoa học não bộ, cái ranh giới giữa tôn giáo và khoa học sẽ mỏng dần. Hy vọng sẽ có một ngày người ta không còn giết lẫn nhau vì sự khác biệt tín ngưỡng. Ngày đó đa số con người sẽ sống với tần số Alpha và sẽ có tâm trạng “vô ngã”, biết lắng nghe và thông cảm lẫn nhau. Hòa bình thật sự chỉ có thể xây dựng được từ trong tâm mà thôi.

Thái Minh Trung, M.D/Nguyệt san Giác Ngộ 185

 

Tin khác:
Trang ( 1/12) : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Trang cuối]
   Văn Hóa
     Tư tưởng Phật giáo
     Văn hóa Phật giáo
     Phật giáo và cuộc sống
     Chuyện đạo đời
     Lời cảm ơn cuộc sống
     Sáng tác
Bình Dương: Hội nghị phổ biến chính sách, pháp luật và tín ngưỡng tôn giáo năm 2022

Sáng ngày 18/7/2022, tại Trường Chính trị tỉnh (phường Chánh Nghĩa, TP. Thủ Dầu Một), Ủy ban Nhân dân và Ban Tôn giáo tỉnh Bình Dương đã tổ chức Hội nghị phổ biến chính sách, pháp luật và tín ngưỡng tôn giáo cho chức sắc, chức việc các tôn giáo và đại diện cơ sở tín ngưỡng tỉnh Bình Dương năm 2022.

Chư Tăng Ni Phật giáo tỉnh Bình Dương bố tát định kỳ trong mùa An cư kiết hạ Pl.2566

Sáng ngày 13/7/2022 (nhằm ngày 15/6 năm Nhâm Dần), chư Tôn đức thành viên Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương và Tăng Ni hành giả an cư trên toàn tỉnh đã vân tập về Trung tâm Văn hóa tượng Phật nhập Niết Bàn – Tổ đình Hội Khánh (phường Phú Cường, TP. Thủ Dầu Một), để bố-tát, thính giới định kỳ trong mùa An cư kiết hạ Phật lịch 2566.

Bình Dương: Truyền giới Tỳ kheo, Sa-di, Tỳ kheo Ni, Thức xoa Ma na và Sa di Ni

Chiều ngày 25/6/2022, các đàn giới thuộc Đại giới đàn Thiện An PL.2566 – DL.2022 do Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương chính thức đăng đàn truyền giới Tỳ kheo, Sa di, Tỳ kheo Ni, Thức xoa Ma na và Sa di Ni tại hai giới trường.

Lễ Khai Mạc Đại giới Đàn Thiện An Hòa thượng Thích Thiện Nhơn đương vi Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn Thiện An

Sáng ngày 25/6/2022 (nhằm ngày 27/5/Nhâm Dần) tại Giới trường Tổ đình Hội Khánh - Trụ sở BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương (P.Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một) đã trang nghiêm diễn ra lễ khai mạc Đại giới đàn Thiện An do BTS Phật giáo tỉnh Bình Dương tổ chức.

Bình Dương: Trang nghiêm lễ cung nghinh tôn ảnh HT. Thích Thiện An về giới trường Tổ đình Hội Khánh và chùa Bồ Đề Đạo Tràng

Theo chương trình Đại Giới đàn Thiện An, sáng ngày 23/6/2022 (nhằm ngày 25/5 năm Nhâm Dần), Ban Tổ chức Đại Giới đàn đã đến chùa Bửu Phước (thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo) làm lễ cung thỉnh tôn ảnh cố Hòa thượng thượng Thiện hạ An (tôn danh được lấy làm tôn hiệu của Đại giới đàn) và giới Bổn về Tổ đình Hội Khánh, chùa Bồ Đề Đạo Tràng, địa điểm truyền giới cho các giới tử. Nghi thức do Ban Nghi lễ GHPGVN tỉnh Bình Dương đảm trách, gồm: Tôn ảnh, Giới bổn, long đình, bát bửu, long trượng.v.v….với gần 500 giới tử sẽ làm hàng chào cung nghinh đoàn rước tôn ảnh và giới bổn theo nghi thức Phật giáo.

CÂU HỎI ÔN ĐÀN SA DI VÀ SA DI NI ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN AN

I/PHẦN GIÁO HỘI. 1/ Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ nhất diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ nhất diễn ra vào ngày 04– 07/11/1981 tại Nhà Văn Hoá Việt-Xô, Thủ Đô Hà Nội. 2/ Vị Chủ Tịch HĐTS đầu tiên của GHPGVN là ai? Vị Chủ Tịch HĐTS đầu tiên của GHPGVN là Đức Đại Lão Hoà Thượng Thích Trí Thủ. 3/Từ ngày được thành lập đến nay, Giáo hội Phật giáo Bình Dương đã trãi qua bao nhiêu lần Đại Hội? Lần Đại Hội sau cùng diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Từ ngày được thành lập đến nay, Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Dương đã trãi qua 10 lần Đại hội, lần Đại hội sau cùng diễn ra vào ngày 02-03/ 01/ 2022, diễn ra tại Trung tâm văn hóa Tượng Phật Niết bàn chùa Hội Khánh.

CÂU HỎI ÔN THI ĐÀN THỨC XOA MA NA NI ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN AN

I/PHẦN GIÁO HỘI. 1/ HĐCM được suy tôn tại Đại Hội Đại Biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ nhất gồm có bao nhiêu vị? Do ai làm Pháp Chủ? Tại Đại Hội Đại Biểu Phật giáo lần I, HĐCM GHPGVN được suy tôn tất cả là 56 vị do Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm Pháp Chủ. 2/Từ khi được thành lập đến nay, GHPGVN đã trải qua bao nhiêu lần Đại Hội? Lần Đại Hội sau cùng diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Từ khi được thành lập đến nay, GHPGVN đã trãi qua 8 lần Đại hội. Đại hội sau cùng là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8, diễn ra vào ngày 19, 20, 21 va 22 tháng 11 năm 2017 tại cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội.

CÂU HỎI ÔN THI ĐÀN TỲ KHEO NI ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN AN

I/PHẦN I: GIÁO HỘI 1/ Đại Hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ 8, nhiệm kỳ ( 2017-2022) của GHPGVN diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ 8 của GHPGVN diễn ra vào ngày 19 – 22 / 11/ 2017, tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô, thủ đô Hà Nội. 2/ GHPGVN là tiền thân của bao nhiêu tổ chức? Kể ra cụ thể? GHPGVN là tiền thân của 9 tổ chức Hệ Phái Phật Giáo trong cả nước, đó là:  Hội Thống Nhất Phật giáo Việt Nam  Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.  Giáo Hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam.  Ban Liên Lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM.  Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam.  Giáo Hội Phật giáo Thiên Thai Giáo Quán.  Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam.  Hội Sư Sãi Yêu Nước Miền Tây Nam bộ.  Hội ...

CÂU HỎI ÔN THI ĐÀN TỲ KHEO ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN AN

I/PHẦN I: GIÁO HỘI 1/ Đại Hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ I của GHPGVN diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ nhất của GHPGVN diễn ra vào ngày 04-07/ 11/ 1981, tại Chùa Quán Sứ, Thủ Đô Hà Nội. 2/ GHPGVN là tiền thân của bao nhiêu tổ chức? Kể ra cụ thể? GHPGVN là tiền thân của 9 tổ chức Hệ Phái Phật Giáo trong cả nước, đó là:  Hội Thống Nhất Phật giáo Việt Nam  Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.  Giáo Hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam.  Ban Liên Lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM.  Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam.  Giáo Hội Phật giáo Thiên Thai Giáo Quán.  Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam.  Hội Sư Sãi Yêu Nước Miền Tây Nam bộ.  Hội Phật Học Nam Việt.

Phật giáo Bình Dương thính giới kỳ đầu tiên trong mùa An cư Kiết hạ PL. 2566

Truyền thống An cư Kiết hạ là mạng mạch của Tăng già, là thước đo phẩm hạnh của người xuất gia. Trên tinh thần đó, sáng ngày 29/5/2022 (nhằm ngày 29/4 năm Nhâm Dần), chư Tôn đức Tăng Ni hành giả an cư đồng tập trung về Trung tâm Văn hóa tượng Phật nhập Niết Bàn – Tổ đình Hội Khánh (phường Phú Cường, TP. Thủ Dầu Một), cùng nhau Bố tát, trùng tụng Giới bổn, nương Giới pháp để tấn tu đạo nghiệp. Và đây là lần Bố tát đầu tiên mùa ACKH PL.2566 - DL.2022.

van nghe chao mung hoi thao hoang phap 2011
Vững niềm tin Phật - Clip13
Xem thêm >>