Cảm nhận và rung động trước "ngư nhàn" của Không Lộ thiền sư

Trong dòng chảy bất tận của thời gian nghiệt ngã, mọi trăn trở của kiếp nhân sinh rồi phải qua đi. Có còn chăng chỉ là vầng trăng chân lý tồn tại và vằng vặc dõi theo, soi sáng bước chân của kiếp phù sinh này. Xin được một lần trải rộng tâm hồn mà cảm nhận vũ trụ để tìm lấy một chút an nhiên tự tại. “Cảnh thanh nhàn của Ngư ông” chính là phút giây uyên áo của thiền học đã hấp thụ được cái hình tượng nguyên sơ của đất trời để đưa con người vượt qua mọi xoay vần chật hẹp của trần thế.

Lịch sử nước ta đã từng chứng kiến sự huy hoàng của nền “văn học Thiền tông” ra đời và tồn tại trong thời Lý Trần, đây là giai đoạn thịnh hành của Phật giáo, các vị Tăng lữ có vai trò rất quan trọng, Phật giáo lúc này ảnh hưởng rất lớn và có tính chất chủ đạo trong nền văn học Việt Nam.

Bằng trực giác của một tâm thức ngời sáng, bằng sự cảm nhận của tâm hồn đang lung linh trong cõi thiền, các vị Tăng thời này đã để lại “những viên ngọc bích” ghi lại những giây phút thăng hoa đạt tới đỉnh điểm của sự nhất tâm siêu việt qua mọi bờ cõi. “Ngư Nhàn” của Không Lộ thiền sư chính là hình tượng hóa hồn thơ của một Tăng sĩ, thi sĩ đang giác ngộ mọi chân lý của thế gian.

Một thiên nhiên khoáng đãng, một tâm hồn thanh cao và trí tuệ trực giác đã hòa quyện trở thành nhịp sống hồi sinh. Ở nhịp sống này ta thường bắt gặp thiền sư với phong thái siêu xuất tam giới nhưng vẫn bình dị giản đơn, hài hòa với cuộc sống sôi động, gần gũi, thân thiết với tình đời ấm lạnh.

“Vạn lý thanh giang vạn lý thiên

Nhất thôn tang giá nhất thôn yên

Ngư ông thụy trước vô nhân hoán

Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền”

Đọc thơ thiền, chúng ta thấy cảm hứng thơ thật phong phú, đó là nguồn sống vô tận của vũ trụ càn khôn, nhưng nguồn sáng tạo không tách rời đời thường mà được đặt trên chiều kích nhân tính sâu sắc, nó cho chúng ta bắt gặp vẻ đẹp tâm hồn thi nhân. Và chính đó là một trong những nét đặc trưng trong thơ văn Phật giáo. Thơ thiền là thể loại văn học phản ánh một cách sâu sắc nhất và tập trung nhất đời sống tâm linh của tác giả. Nói cách khác nó thể hiện tính thẩm mỹ của con người với hiện thực lịch sử qua cảm nhận từ góc độ thiền học.

Tính triết luận về tư tưởng Phật giáo là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất để nhận thức nội dung thơ thiền không thể trình bày các triết lý này một cách khô khan mà thông qua tâm trạng cảm xúc con người trong sự đổi thay của cuộc đời. Nó hoàn toàn không xa lạ với cuộc sống, mà rất tự nhiên gần gũi.

“Vạn lý thanh giang vạn lý thiên

Nhất thôn tang giá nhất thôn yên”

Hai câu thơ tả cảnh thiên nhiên sông nước, vị Tăng sĩ có lẽ đang đặt tầm quan sát của mình vào một nơi vô cùng cao xa, nơi mà tác giả có thể nhìn ngắm “vạn dặm nước” trong con sông hiện lên “vạn dặm trời”.

Điểm nổi bật ở đây là hình ảnh thiên nhiên bao la, hình ảnh này cũng là sự kết hợp hài hòa thuần túy giữa vẻ đẹp nghệ thuật và trạng thái chứng ngộ. Do vậy, những vần thơ ấy mới nghe qua không kém lãng mạn, thi vị hóa cảnh sắc, nhưng vẫn biểu lộ mức độ tâm chứng, buộc người đọc trầm lắng suy tư. Thiền sư Không Lộ với thú vui thôn dã, nắm rõ mọi khía cạnh sinh sinh hóa hóa của cuộc thế đã cho ra đời những vần thơ bất hủ, cảm hứng thơ thiền của bài thơ này được lồng vào hình ảnh thiên nhiên, có lẽ đạt được sự giác ngộ của tâm thức khi nhập thiền định. Nhà thơ - thi sĩ đã nhận được rằng “vạn pháp duy tâm tạo”, “vạn lý thanh giang” là hình ảnh của một tâm hồn vắng lặng an ổn tự tại chiếu rọi bóng vạn dặm dòng nước trong. Cũng chính lúc ấy vạn vật trên thế gian này đều hiện ra một cách yên bình.

“Nhất thôn tang giá nhất thôn yên”

Đứng trên quan niệm sở kiến thì đây là một hình thức dị ngôn nói lên sự chứng ngộ sau cùng của nhà sư về sự sống chết của con người, đồng thời nêu lên những lời khuyên răn ẩn dụ sau những vần thơ bóng bẩy đó. Phải chăng Không Lộ thiền sư khi quán sát mọi cảnh vật bằng tâm thức ngời sáng, Ngài đã dạy: “Tâm bình thế giới bình”. Bằng những hình ảnh thơ ngắn gọn, nhưng đủ hiện lên trong đầu người đọc một không gian bao la bát ngát vô cùng ý vị thanh thoát và ẩn nấp đằng sau là một “tâm hồn thiền” tịch tịnh quán chiếu các pháp trên thế gian để nghiệm ra mọi lẽ của chân lý.

Cũng từ đây làm người ta nhớ đến một hình ảnh thơ khác giống nhau về tư tưởng:

“Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt

Vạn lý vô vân vạn lý thiên.”

Ở thơ thiền, mặt vật chất là cái tượng trưng triết lý thiền học được nói đến. Hai câu thơ hàm chứa đầy đủ sự uyên áo của thiền học và cả sự trinh nguyên thanh bình của vẻ đẹp thiên nhiên. Chỉ có “dĩ tâm truyền tâm” mới có thể thông đạt nghĩa lý mầu nhiệm ấy. Như Suzuki phải thốt lên rằng “Những bài thơ đó khó mà phân tích được, trừ khi chính người phê bình chứng minh qua cảnh ấy”. Những giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mỹ của thơ thiền không chỉ thể hiện ở cái được tượng trưng, mà còn được hiện hình qua vật chất của hình tượng thơ đó. Đây chính là những chất liệu vật chất ghi lại một cách tinh tế giây phút thăng hoa của tinh thần hồn nhiên, bình lặng của thi sĩ.

“Ngư ông thụy trước vô nhân hoán

Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền”

Hồn thơ, nhịp thơ, ý thơ đạt đến trình độ tuyệt đối của giây phút viên mãn tâm thức thiền mà ở chốn thiền môn gọi là “nhất tâm” của Thiền sư - thi sĩ đã kết tinh được mọi sự thâm diệu của thiền học, của chân ý Phật đà qua những hình tượng thơ rất mực giải dị. Con người là đề tài, là nguồn cảm hứng bất tận và cũng là nơi phục vụ của thi ca. Cũng vậy, thơ thiền không hề xóa bỏ hình tượng con người, mà có những nơi, có những lúc con người còn là đối tượng chính, là phần trọng tâm phản ánh nơi thơ. Trong nền văn học nước ta, thơ thiền thực sự đã hoàn thành một cuộc hành trình đi tới tâm hồn tình cảm của con người.

“Nam nhi tự hữu xung thiên chí

Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”

(Làm trai lập chí xông trời thẳm

Theo gót Như Lai luống nhọc mình)

(Thiền sư Quảng Nghiêm)

Tư tưởng thiền, cảm hứng thiền của nhà thơ đọng lại trong câu thơ vô cùng sâu sắc “Ngư ông thụy trước vô nhân hoán”. Phải chăng cuộc đời vốn vô thường, vạn vật đều biến đổi không ngừng, nhưng trong cái vô thường ta lại nhận ra được cái thường hằng vĩnh cửu, sống an lạc nhẹ nhàng, mỉm cười vô tư trước mọi sự đổi thay.

Trên con thuyền nhỏ, trên dòng sông lạnh vắng lặng đó, ông chài đã vô tư không hề để tâm vin víu vào một vật nào, ngược lại rất thư thái an nhiên tự tại. Ở đây mọi sự tính đếm về không gian, thời gian đã bị sự an nhiên của “Ngư Nhàn” làm rạn vỡ.

Trong kinh Kim Cương có dạy “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” người hành giả tu học thiền định cần biết điều tâm, an tâm, trú tâm để được an lạc, giải thoát. Không Lộ đã bộc lộ tư tưởng đó một cách tinh tế qua hình tượng Ngư ông câu cá trong bài thơ. 

Bằng sự thực tu thực chứng thực nghiệm, các thi sĩ trong thiền đã thể hiện cái “bản ngã” của mình qua nhiều hình ảnh khác nhau. Nhiều khi vút lên cao trên đỉnh núi, khi trầm lặng dưới mặt dòng sông, nhiều khi sảng khoái trong một tiếng thét làm toát lạnh cả hư không.

“Hữu thời trược hướng cô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”

(Thiền sư Không Lộ)

Cái “bản ngã” ấy là những hình ảnh bộc phát mà các Tăng sĩ bất ngờ nắm bắt được trong cuộc sống muôn hình vạn trạng này. Ngôn ngữ thiền đã ghi lại hình ảnh ấy về mặt vật chất một cách trực tiếp. Nhưng rõ ràng câu thơ không phải nhằm phản ánh điều này, mà qua đây thể hiện những chân lý nắm bắt được khi đã bừng tỉnh giác ngộ Phật tánh.

Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền

Với phong thái an nhiên tự tại, trong sự im lặng tịch mặc của hư không, bản lĩnh trác việt của hồn thơ đã được kết tinh trong câu thơ cuối. Đây là câu thơ duy nhất trong bài xuất hiện hình tượng thơ “động”, nhưng cái động khẽ khàng ấy không đủ để làm “động” tâm thi sĩ trong cái không gian đang tịch mịch kia.

Nếu như Mãn Giác thiền sư ở Cáo Tật Thị Chúng đã không xoa dịu nỗi đau khắc khoải của thế gian bằng một nhánh mai sắc vàng, mà lại mỉm cười nhẹ nhàng trước mọi thách thức của thời gian.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”

Thì ở đây Không Lộ thiền sư cũng không phải đem hoàn toàn mọi sự vật trên thế gian này đặt vào cõi “vô vi” và an nhiên khoanh tay trước mọi việc, chính Thiền sư đã đánh thức lương tri của nhân loại đang rong ruổi theo mọi sự ràng buộc của thế gian để quay về với chính bản tâm của mình.

Hình tượng Ngư ông tỉnh giấc và chiếc thuyền đã phủ đầy tuyết thể hiện rất đặc sắc hình tượng con người đã trực giác được bổn tâm. Đây cũng là giây phút viên mãn của tâm thức thiền.

Hình tượng thơ ấy làm người đọc bất chợt liên tưởng đến con thuyền cách mạng của Hồ Chủ Tịch đã tràn đầy hy vọng.

“Yên ba thâm xứ đoàn quân sự

Dạ bán quy lai tuyết mãn thuyền”

Từ bao đời nay, cảnh non nước nghìn trùng bao giờ cũng phù hợp với tâm hồn thoát tục. Âm thanh hình sắc chốn núi rừng là bức tranh muôn màu, trong sáng thanh cao đã đi vào lòng thiền sư với nhịp điệu rung cảm thẩm mỹ, tất cả đã tạo nên một nguồn cảm hứng sáng tạo trong các thi phẩm.

Bài thơ được viết theo lối thất ngôn tứ tuyệt. Hình thức này chứa đựng những năng lực trí tuệ tích tụ đến đỉnh điểm để khai ngộ những tâm hồn đang khắc khoải chân lý Phật đà. Bốn câu thơ có hai cách ngắt nhịp khác nhau như là một dụng ngữ đầy ý thức của nhà thơ, muốn tìm ra nhịp đập của dòng chảy thời gian và hòa mình vào đó để tìm thấy được sự bình yên.

Từ thời phôi thai, để trở thành một dòng chảy êm đềm và hoàn mỹ, văn học Lý - Trần nói chung và thơ thiền đời Lý nói riêng luôn là một khoảng trời mênh mông để ngòi bút tìm cho mình cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Thiên nhiên, con người, chất triết lý, chất trữ tình bàng bạc trong từng dòng của các thiền sư - thi sĩ trải qua bao thăng trầm lịch sử vẫn để lại trong tâm hồn người đọc một sức sống bất tận, dung chứa những rung cảm thật khó có thể trình bày bằng ngôn ngữ vốn hạn hẹp, đôi lúc chỉ biết lặng im mà cảm nhận lấy.

Những vần thơ khiến người cảm nhận có gì xao xuyến, rưng rưng, giật mình trước những cái phi thường của lẽ đời mà bậc ngộ đạo đã nhận thấy, vượt ra khỏi phạm trù tư duy hữu ngã và sự diễn tả của ngôn từ. Nhìn chung, thơ thiền Lý Trần vẫn mang trong mình những âm sắc và tư tưởng riêng tạo thành một nền văn học Phật giáo Việt Nam.

Xin được một lần dò dẫm trong cõi tình mênh mang của xứ thiền để đem lại chút ít nhẹ nhàng thanh thoát trong tâm tư. Và cũng chính là một lần cúi đầu khấn nguyện, thầm tri âm các vị thiền sư - thi sĩ đã để lại trần gian này những đóa hoa bất diệt với thời gian.

Thích nữ Tuệ Minh

Tin khác:
Trang ( 1/12) : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Trang cuối]
   Văn Hóa
     Tư tưởng Phật giáo
     Văn hóa Phật giáo
     Phật giáo và cuộc sống
     Chuyện đạo đời
     Lời cảm ơn cuộc sống
     Sáng tác
Bình Dương: Chư Tăng Ni hành giả an cư trang nghiêm bố tát, thính giới định kỳ

Sáng ngày 20/7/2020 (nhằm ngày 30/5 năm Canh Tý), toàn thể chư Tôn đức Tăng Ni hành giả an cư thuộc Phật giáo tỉnh Bình Dương đã trang nghiêm bố tát, thính giới tại Trung tâm Văn hóa tượng Phật nhập Niết Bàn - chùa Hội Khánh (phường Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một) để cùng nhau bố tát, trùng tụng Giới bổn, nương Giới pháp để tấn tu đạo nghiệp.

Bình Dương: Chư Tăng Ni trang nghiêm lễ bố tát, tụng giới mùa an cư PL.2564

Sáng ngày 05/7/2020 (nhằm ngày 15/5 năm Canh Tý), chư Tôn đức Tăng Ni hành giả an cư thuộc Phật giáo tỉnh Bình Dương đã vân tập về trụ sở Ban Trị sự - Trung tâm Văn hóa tượng Phật nhập Niết Bàn (chùa Hội Khánh) phường Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một, để cùng nhau bố tát, trùng tụng Giới bổn, nương Giới pháp để tấn tu đạo nghiệp. Đây là một hoạt động được tổ chức định kỳ nửa tháng một lần trong mùa An cư.

Bình Dương: Lễ Bố tát đầu mùa an cư tại chùa Hội Khánh

Truyền thống An cư Kiết hạ là mạng mạch của Tăng già, là thước đo phẩm hạnh của người tu. Mùa An cư Kiết hạ (ACKH) là thời điểm để Tăng Ni thúc liễm ba nghiệp, trau dồi giới đức. Trên tinh thần đó, sáng ngày 20/6/2020 (nhằm ngày 29/4 nhuận năm Canh Tý), chư Tôn đức Tăng Ni hành giả an cư thuộc Phật giáo tỉnh Bình Dương đã vân tập về trụ sở BTS - Trung tâm văn hóa tượng Phật nhập Niết Bàn (chùa Hội Khánh) phường Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, cùng nhau bố tát, trùng tụng Giới bổn, nương Giới pháp để tấn tu đạo nghiệp. Và hôm nay là lần Bố tát đầu tiên mùa ACKH PL.2564- DL.2020.

Bình Dương: Khai mạc Hội thảo Khoa học “Lịch sử hình thành Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam và sự đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc"

Nhằm ghi nhận, tôn vinh và tri ân những bậc tiền bối hữu công một thời đã gầy dựng nên Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam và đã có những cống hiến thiết thực, hiệu quả cho Đạo pháp và Dân tộc, với mong muốn làm đẹp thêm những giá trị lịch sử về nguồn cội của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, vị trí cũng như vai trò của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Đồng thời, nhằm giúp cho các thế hệ hậu học hiểu biết thêm về một số tổ chức Phật giáo yêu nước và tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu có được những thông tin hữu ích trong quá trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam thời cận hiện đại. Trên tinh thần đó, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Viện Nghiên cứu Tôn giáo phối hợp với Hệ phái Phật giáo ...

Bình Dương: Ban Trị sự GHPGVN tỉnh trang nghiêm tác pháp An cư Kiết hạ Pl. 2564

Thể theo truyền thống Phật giáo từ khi Phật còn tại thế, các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni lại vân tập về các trú xứ trong ba tháng mùa mưa để tu học, thúc liễm thân tâm trau dồi Giới – Định - Tuệ. Sáng ngày 7/6/2020 (nhằm 16/4 nhuận năm Canh Tý), Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương đã cử hành lễ tác pháp khai khóa An cư Kiết hạ PL.2564- DL.2020 cho hơn 700 hành giả an cư trong toàn tỉnh tại Trung tâm Văn hóa tượng Phật nhập Niết Bàn - chùa Hội Khánh (đường chùa Hội Khánh, phường Phú Cường, TP. Thủ Dầu Một), dưới sự quang lâm chúng minh của HT.Thích Huệ Thông, HT.Thích Tâm Từ - đồng Thành viên Hội đồng Chứng minh TƯGH, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương.

Bình Dương: Họp đúc kết công tác chuẩn bị cho Hội thảo Khoa học Phật giáo Cổ truyền Việt Nam và sự đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc

Chiều ngày 04/6/2020 (nhằm ngày 13/04 nhuận năm Canh Tý), tại Văn phòng Ban Trị sự - chùa Hội Khánh (phường Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương), Ban Tổ chức họp đúc kết công tác chuẩn bị cho Hội thảo Khoa học Phật giáo Cổ truyền Việt Nam và sự đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc với Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, dưới sự chủ trì của HT.Thích Thích Huệ Thông - Phó Tổng Thư ký HĐTS, Chánh Văn phòng II TƯGH, Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương.

Bình Dương: Ban Thường trực Ban Trị sự Phật giáo tỉnh họp thường kỳ

Sáng ngày 25/5/2020 (nhằm ngày 3/04 nhuận năm Canh Tý), tại Văn phòng Ban Trị sự - chùa Hội Khánh (phường Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương), Ban Thường trực BTS Phật giáo tỉnh Bình Dương đã tiến hành phiên họp thường kỳ dưới sự chủ trì của HT.Thích Thích Huệ Thông - Phó Tổng Thư ký HĐTS, Chánh Văn phòng II TƯGH, Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương.

Bình Dương: Ban Trị sự GHPGVN tỉnh trang nghiêm tổ chức Đại lễ Phật Đản PL.2564 - DL.2020

Đại lễ Phật Đản là dịp để khẳng định sự trong sáng của giáo lý đạo Phật, sự đóng góp của Phật giáo trong sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước và của tỉnh Bình Dương nói riêng. Đồng thời, đây cũng là dịp mà tất cả những người con Phật trên khắp hành tinh đều hân hoan kính mừng ngày đản sinh của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni.

Bình Dương: Nghĩa tình “cây ATM gạo” cùng người dân vượt qua khó khăn mùa dịch

Trước tình hình cuộc sống của người dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Chiều ngày 22/4/2020, “cây ATM gạo” tình thương được bố trí tại Trung tâm tượng Phật Niết bàn – chùa Hội Khánh (đường chùa Hội Khánh, phường Phú Cường, TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương) của Ban Trị sự GHPGVN tỉnh chính thức được vận hành, phần nào giúp người dân lao động nghèo bớt nỗi lo toan, có thêm những bữa cơm ấm cúng cùng gia đình.

Bình Dương: Những phần quà yêu thương giúp đỡ người nghèo vượt qua mùa dịch Covid-19

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, nhà nước về việc “chống dịch như chống giặc” và thông bạch của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng cả nước chung tay, góp sức vào công cuộc phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

van nghe chao mung hoi thao hoang phap 2011
Vững niềm tin Phật - Clip13
Xem thêm >>