Đôi Điều Về Nhân Cách Văn Hóa Của Đức Phật Và Những Anh Hưởng Tích Cực Đ

 1. DUYÊN KHỞI

         Vào ngày 15/12/1999, trong phiên họp lần thứ 54, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã chính thức thừa nhận Đại lễ Phật đản hằng năm là ngày “Phật giáo Thế giới”. Hơn thế nữa, LHQ còn xem đây là Lễ Hội Văn Hóa Tôn Giáo có ý nghĩa thiêng liêng, trọng đại nhất của loài người trên hành tinh.
         Từ ngày LHQ đứng ra tổ chức Đại lễ Phật đản lần đầu tiên vào năm 2000 tại trụ sở LHQ (New York - Mỹ) đến nay, Đại lễ Phật đản đã trở thành sự kiện lịch sử thiêng liêng và trọng đại bởi thông điệp hóa giải hận thù, giải thoát khổ đau, vị tha nhân ái, hòa bình hạnh phúc … mà tinh thần và hoạt tính cao cả thiết thực của Đại lễ Phật đản đã mang đến cho nhân loại.
Việc đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ 2008 tại Việt Nam sẽ là cơ hội quí báu để đất nước chúng ta thêm một lần nữa tạo nên hình ảnh tốt đẹp đối với bạn bè thế giới; khẳng định tính công bằng, dân chủ, văn minh của đất nước và con người Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, thân thiện, hòa hợp và đoàn kết. Qua đó, nâng cao vị trí và tầm vóc của Việt Nam trên trường quốc tế … Có thể nói rằng, đây là một vinh dự lớn lao của đất nước Việt Nam, đồng thời cũng là niềm tự hào và trọng trách của GHPGVN cũng như của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam.
Đối với Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Bình Dương nói riêng thì sự kiện lịch sử này còn mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng trọng đại: Thiết lập nhịp cầu tâm linh, thiết lập sự cảm thông, hiểu biết, học hỏi kinh nghiệm Phật sự, tiến đến hợp tác trên tinh thần cộng tu hoằng pháp, vị tha, vô ngã … với mục đích thiết thực và tối thượng là góp phần hóa giải khổ đau, đồng thời góp phần làm cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta ngày càng phồn vinh giàu đẹp.
Hòa cùng niềm hân hoan vô hạn trước sự kiện Đại lễ Phật Đản năm nay, cũng đồng thời góp phần chào mừng chuỗi hoạt động Đại Lễ Phật Đản LHQ 2008 sắp diễn ra tại Hà Nội. Ban Trị Sự GHPG tỉnh Bình Dương đứng ra tổ chức đại lễ phật đản LHQ tại Quảng trường Trung tâm Du lịch Văn hóa Thế giới Đại Nam mang chủ đề : Đưa sinh hoạt văn hóa Phật giáo vào đời sống cộng đồng. Với ý nghĩa này Đại lễ Phật đản được tổ chức ở Bình Dương sẽ có trên 30 nghìn người tham dự với nhiều chương trình văn hóa phật giáo được thể hiện qui mô, hoành tráng với mục đích góp phần chuyển tải một cách phong phú những thông điệp thiêng liêng về lịch sử đức Phật Đản Sanh, về những đóng góp to lớn từ giáo pháp của đức Phật đến đời sống nhân loại, nhất là trong bối cảnh thế giới đang có nhiều biến động bởi tình trạng hiệu ứng nhà kính dẫn đến hậu quả trái đất đang nóng dần lên, bởi tình trạng khủng bố tràn lan tại nhiều quốc gia còn đang tranh chấp, thiên tai dịch bệnh, nạn khủng hoảng lương thực, cùng với tình trạng lạm phát mang tính toàn cầu như hiện nay.
Tính đến Đại Lễ Phật Đản năm 2008, thì đạo Phật đã tồn tại trên hành tinh này đúng 2552 năm. Như vậy, trên 2550 năm tồn tại và phát triển, dù có lúc thịnh lúc suy, có lúc thăng lúc trầm, nhưng ánh sáng giác ngộ của đức Phật vẫn không ngừng soi sáng con đường giải thoát khổ đau cho nhân loại. Thế thì tại sao nhân loại vẫn chưa hết khổ đau, đã vậy, nhiều nơi trên thế giới hận thù oán đối ngày thêm chồng chất. Vì sao vậy? Tất nhiên đó là do loài người chưa thật sự tin tưởng và nương tựa vào lương tri và tánh giác nơi chính bản thân mỗi người, nhất là chưa thật sự thừa hành triệt để theo giáo pháp của đức Phật.
Tuy nhiên, dù thế giới chúng ta đang sống vẫn còn nhiều bất an do dịch bệnh, thiên tai, khủng bố hoành hành, dù nhân loại vẫn chưa hết đau khổ ưu phiền vì nghiệp chướng chúng sanh không ngừng gieo tạo. Thế nhưng chúng tôi tin tưởng một cách sâu sắc rằng, bất cứ nơi nào ánh sáng trí tuệ và suối nguồn yêu thương từ bi vô hạn của đức Phật soi rọi đến, thì nơi đó, bóng đêm si mê ám chướng được xua tan, hận thù oán đối của chúng sanh được hóa giải, đời sống tinh thần của từng cá thể được quân bình ổn định, đời sống xã hội thêm phồn vinh hạnh phúc, đời sống nhân loại nhờ đó được hòa bình an lạc.
Đối với người đã từng theo đạo Phật, thậm chí đối với người chưa có nhân duyên sâu xa với đạo Phật, nhưng một khi đã hấp thụ, đã thấm nhuần giáo pháp của Ngài, thì tinh thần Từ Bi và Trí Tuệ nơi mỗi người, nhân đó sẽ được phát khởi, sẽ đơm hoa kết quả và tỏa hương khoe sắc. Chắc có lẽ không ít người sẽ không khỏi thắc mắc là tinh thần Từ Bi và Trí Tuệ đó sẽ trổ ra hoa gì? Và thành tựu quả gì? Vâng! Hoa đó là hoa Vô Ưu, quả đó là quả Trí Tuệ, hương đó là hương Giải Thoát, sắc đó là sắc Vị Tha, Vô Ngã … Thật ra những yếu tố quyết định sự thành tựu trong tinh thần Giác Ngộ và Giải Thoát này, đã hình thành nên nhân cách văn hóa vĩ đại của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cách nay đã trên 2550 năm rồi. Nay thông qua giáo pháp của Ngài, ánh sáng trí tuệ và suối nguồn yêu thương chúng sanh vô hạn của đức Phật đã và đang dần dần truyền sang mỗi chúng ta. Khi chúng ta mở lòng, tiếp nhận nguồn tuệ giác và thọ cảm đại bi tâm từ nơi đức Phật, thì bắt đầu từ trong tiềm thức sâu xa và trong tâm hồn sâu lắng của mỗi chúng ta, dù ít hay nhiều, cũng sẽ hình thành nên một nhân cách sống đạo, để chuyển hóa nghiệp lực bản thân. Nhân cách văn hóa đặc thù tâm linh này cũng sẽ góp phần chuyển hóa đời sống còn nhiều khổ đau của nhân loại, mà chúng tôi cho rằng, nó rất cần thiết trong đời sống xã hội trong bối cảnh hiện nay. Đây cũng là nền tảng, là tiền đề để giới Tăng Ni Phật tử nói riêng và toàn xã hội nói chung, cùng nhau chung tay tích cực góp phần xây dựng nên một thế giới an lạc, hòa bình lâu dài và bền vững. Trước tầm quan trọng thiết thực của vấn đề này, cũng nhân trước thềm Đại lễ Phật Đản Quốc tế 2008, trong nguồn cảm hứng sâu xa, chúng tôi mạo muội đôi lời đóng góp tham luận nhân Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 lần này với chủ đề: “Đôi Điều Về Nhân Cách Văn Hóa Của Đức Phật Và Những Anh Hưởng Tích Cực Đến Đời Sống Nhân Loại Từ Giáo Pháp Của Ngài”.
 
2. MỤC ĐÍCH RA ĐỜI CỦA ĐỨC PHẬT
Như chúng ta đã biết, mục đích mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện trên thế gian này là để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến của chính mình, như tinh thần kinh Pháp Hoa đã đề cập. Nói một cách khác, sự ra đời của đức Phật là để chỉ ra cái bản tâm thanh tịnh sáng suốt chưa từng bị ô nhiễm của mỗi chúng ta. Bản tâm thanh tịnh đó, trong thuật ngữ nhà Phật gọi là Chân Tâm hay còn gọi là Phật Tánh, nó hiện hữu sống động, thể hiện nơi sự sáng suốt của tánh giác và lương tri đạo đức luôn thường hằng trong đời sống tâm linh của tất cả chúng ta, dù cho chúng ta đang sống lăn lộn trong cõi phàm trần vốn nhiều vọng động, dù chúng ta có bị ngũ dục cám dỗ và phiền não chi phối.
Để khai thị vấn đề vô cùng hệ trọng này, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng đến tám muôn bốn ngàn phương tiện. Thông qua mỗi phương tiện, đức Phật đã định hướng rất cụ thể trong cách ăn, cách nói, cách suy nghĩ, cách giao tiếp, cách hành động … nói chung đó là cách sống đạo, tức là nếp sống lấy đạo đức và tình thương (từ bi) làm nền tảng, lấy trí tuệ lèo lái cuộc sống đi theo con đường Chân Thiện Mỹ, nói chung đó là một phương cách sống để chuyển hoá ba nghiệp Thân – Khẩu – Ý từ vọng động, bất tịnh, trở nên sáng suốt, thanh tịnh. Cụ thể hơn, Ngài đã giúp cho đời sống chúng ta từng bước xa rời Tham Sân Si, để từ đó, trong mỗi lời nói, mỗi suy nghĩ, mỗi việc làm, đều nhịp nhàng vận hành trong quỹ đạo Giới - Định – Huệ, nhịp nhàng trong quỹ đạo Chân – Thiện – Mỹ, để tiến đến thể nhập Chân Tâm, chứng ngộ Phật Tánh.
Như vậy, mục đích sâu xa và ý nghĩa thiêng liêng về sự ra đời của đức Phật chính là nhằm khai hóa ánh sáng trí tuệ và khơi nguồn yêu thương trong đời sống nhân loại một cách toàn diện và triệt để. Về điều này, chúng tôi cho rằng, chỉ có cách phát triển Trí Tuệ và tâm Từ Bi một cách triệt để trong đời sống mỗi con người, đánh động Lương Tri và phát triển tình Yêu Thương một cách toàn diện trong đời sống cộng đồng, thì chúng ta mới có thể mang lại an lạc thật sự cho nhân loại, mang lại hòa bình lâu dài bền vững cho thế giới.
Chúng ta nói đến đạo Phật, tức là chúng ta nói đến Từ Bi và Trí Tuệ, Tự Giác và Giác Tha. Bởi đó là hai hoạt tính quyết định tinh thần Giác Ngộ và Giải Thoát của đạo Phật. Quả thật là như vậy, vì người tu hành theo đạo Phật mà không có Trí Tuệ và Từ Tâm thì chẳng thể nào Giác Ngộ và Giải Thoát được. Cũng chính tầm quan trọng này, mà tinh thần Từ Bi và Trí Tuệ luôn được hiển bày, dàn trải trong suốt quảng đời của đức Phật, từ khi Đản Sanh cho đến thời khắc Ngài nhập Niết Bàn.
Theo sự tích đức Phật Đản Sanh thì khi vừa mới chào đời, đức Phật của chúng ta đã bước bảy bước trên bảy đóa sen hồng, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất và thốt lên: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Qua sự tích này, phải chăng đây là câu chuyện mang đầy tính huyền sử của một tôn giáo; mầu nhiệm và bí ẩn về một nhân vật siêu phàm? Hay đây là biểu hiện thiêng liêng siêu việt của một thánh nhân xuất thế? Ở đây chúng tôi sẽ không đưa ra nhận định, mà chỉ xét vế yếu tố lịch sử truyền thống của Phật giáo đã được lưu truyền trên 2550 nay, thì hình ảnh Phật Đản Sanh, đi bảy bước trên bảy đóa sen, với câu nói bất hủ: “Trên trời dưới trời duy chỉ có ta”. Có thể nói, đây là thông điệp đầu tiên mà đức Phật tự tin truyền đến toàn nhân loại, khẳng định sự ra đời của Ngài là đem lại sự Giác Ngộ và Giải Thoát cho chúng sanh bằng Trí Tuệ siêu việt và lòng Từ Bi vô hạn của Ngài. Về điều này tôi chủ quan và cũng tự tin nhận định rằng, duy nhất chỉ có đức Phật mới có thể khẳng định như vậy mà thôi. Và phải chăng đây là biểu hiện khởi đầu về một nhân cách văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới loài người.
Đạo Phật là đạo Giác Ngộ, được thể hiện trọn vẹn bởi tinh thần “Tự Giác” và “Giác Tha”. Đối với chúng ta, muốn được Giác Ngộ và Giải Thoát, thì chúng ta cần phải có Trí Tuệ và Từ Bi. Thế nhưng đối với đức Phật, thì Ngài xuất hiện nơi đời sống thế gian là để giáo hóa chúng sanh, giúp cho chúng sanh Giác Ngộ và Giải Thoát bằng Trí Tuệ và lòng Từ Bi của Ngài.
Sự thị hiện lòng từ bi giáo hóa chúng sanh của đức Phật rất gần gũi, rất thực tế, rất tự nhiên và giàu cảm xúc, điều này đã tác động sâu xa vào tâm thức con người. Sự thị hiện đó, dù đã xãy ra cách nay đã trên 2550 rồi, nhưng đến nay chúng ta vẫn thấy giáo pháp của Ngài là rất khoa học và không hề bị lỗi thời.
Khi nhìn lại lịch sử Phật giáo, tất cả chúng ta đều đã biết, Thái Tử Tất Đạt Đa đã ba lần xin phép Tịnh Phạn Vương được ra ngoài bốn cửa thành để quan sát đời sống dân gian. Thoạt tiên, Thái Tử tận mắt nhìn thấy cảnh tương tàn tương sát giữa các loài chim muông và sâu bọ; cảnh sống khốn khổ bần cùng cũng như số phận bi thương của tập cấp Thủ Đà La, một tập cấp sinh ra để làm nô lệ cho tập cấp Bà La Môn và Sát Đế Lợi. Ấn tượng mãnh liệt nhất đối với Thái Tử lúc bấy giờ là cảnh tượng sanh già bệnh chết ở chốn nhân gian và hình ảnh tướng mạo oai nghi trang nghiêm đỉnh đạc của một vi Sa Môn đang ung dung thả bước trông rất giải thoát tự tại. Khi dạo quanh bốn cửa thành, in sâu vào tâm trí của Thái Tử Tất Đạt Đa lúc bấy giờ chính là sự chi phối và hủy diệt của vô thường. Chúng ta thử hỏi, điều gì lúc bấy giờ đã khiến cho Thái Tử trăn trở thao thức? Phải chăng đó chính là hiện tượng sanh già bệnh chết luôn đeo bám đời sống con người như hình với bóng … Có thể nói đây là bài học rất sâu sắc về lý vô thường mà đức Phật đã chỉ dạy chúng ta rằng: “Đời sống vốn vô thường, mạng sống con người vốn mong manh, không chắc thật”.
Mạng sống con người mong manh không chắc thật, đã vậy thời giờ còn trôi nhanh như tên bắn, cứ mỗi giây phút trôi qua, mạng sống lại giảm dần, tâm tư trăn trở thao thức vấn đề này một cách mãnh liệt đã khiến nội tâm Thái Tử Tất Đạt Đa bùng phát tinh thần “Tự Giác” và “Tự Độ”. Đây là động cơ chính yếu để Ngài từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, cam chịu đời sống khổ hạnh nơi rừng thiêng nước độc để tìm cầu đạo giải thoát. Đối với chúng ta cũng vậy, khi đã cảm nhận sâu sắc về lý vô thường, chắc chắn rằng, chúng ta sẽ không còn mặn mà với việc tham đắm lợi danh, chắc chắn chúng ta cũng sẽ không còn cảm thấy hứng thú gì với việc gây hấn tranh đua, thị phi nhân ngã, giành giựt nhau trong đời sống. Ngược lại chúng ta sẽ thường xuyên cảnh tỉnh bản thân, sẽ tự phát khởi trách nhiệm với chính bản thân mình bằng tinh thần “Tự Giác” và “Tự Độ”, chúng ta sẽ biết quý trọng thời gian, dùng thời gian vào những việc hữu ích trong đời sống tu tập, hoằng pháp, từ thiện xã hội làm lợi ích quần sanh …
Từ bài học vở lòng về lý vô thường, chúng ta sẽ phát khởi lòng từ để đồng cảm và chia sẻ với những hoàn cảnh bất hạnh đau thương trong đời sống quanh ta, chúng ta sẽ phát khởi trí tuệ để nhận chân đâu là điều thiện, đâu là điều bất thiện một cách tường tận và rõ nét hơn, để có hành dụng và ứng xử hợp lý với từng sự việc. Nói khác hơn, khi cảm nhận sâu sắc về luật vô thường, chúng ta sẽ biết gieo nhân lành, xa rời điều ác, để tránh quả báo đau khổ về sau. Chính bài học vô thường đã giúp chúng ta chủ động sống tích cực hơn, chứ không phải sống bi quan, thụ động, vì cho rằng “sống nay chết mai” chẳng có gì phải vướng bận!
Từ khi còn là Thái Tử, chỉ với việc ba lần dạo quanh bốn cửa thành, rồi trở về suy tư thao thức, đức Phật của chúng ta đã đánh động lương tri của loài người, rằng hãy tự cứu lấy mình, trước khi vô thường hủy diệt. Và điều này không chỉ xác thực với mỗi người con Phật, mà còn đúng với cả nhân loại, nhất là trong bối cảnh thế giới ngày nay đang chịu rất nhiều hậu quả nghiêm bởi hiện tượng hiệu ứng nhà kính, hiện tượng băng tan và từng ngày quả đất đang nóng dần lên … Điều thú vị và đáng tự hào của Phật tử chúng ta là lời dạy của đức Phật, dù cách đây đã trên 2550 năm, nhưng đến nay vẫn còn rất thời sự, rất tâm linh mà cũng rất khoa học, rất sáng suốt, rất thực tế, hoàn toàn không mơ hồ ảo tưởng. Cũng từ việc dạo quanh bốn cửa thành, trăn trở trước hiện tượng sanh già bệnh chết trong đời sống nhân gian, đức Phật đã khéo khơi dậy cái lòng từ bi vốn có nơi mỗi con người, là hãy sống với nhau chân thực hơn, hãy sống ích lợi cho bản thân và cống hiến cho xã hội nhiều hơn vì trên dòng đời ngắn ngủi này, uy quyền danh lợi rồi cũng lụi tàn, chỉ có Từ Bi và Trí Tuệ mới tồn tại vĩnh hằng, vì thế gian đầy biến động này vốn là cõi tạm, duy chỉ có giác ngộ và giải thoát mới giúp chúng ta có con đường sáng để quay về chốn quê Cực Lạc … Có thể nói, từ sự nhận chân bản chất vô thường của vạn vật, từ sự chứng ngộ bản tâm vốn tràn đầy công đức, đã hình thành nên một nhân cách văn hóa siêu việt của đức Phật. Hay nói khác hơn, sự nhận chân chuẩn xác và xuyên suốt quá trình sống đạo, hoằng pháp lợi sanh đã hình thành nên một nhân cách văn hóa tuyệt vời trong lịch sử loài người.
 
3. ĐÔI ĐIỀU VỀ NHÂN CÁCH VĂN HÓA CỦA ĐỨC PHẬT
Như chúng ta đã biết, đức Phật thị hiện trên cõi đời này dưới hình thức một con người, Ngài muốn chứng minh rằng con người có một địa vị tối tôn tối thắng trong thế giới muôn loài và trung tâm của vũ trụ. Tuy nhiên Ngài đã thể hiện cho chúng ta thấy rằng, dù con người có khôn ngoan bao nhiêu đi chăng nữa, dù nhân loại có đạt đến đỉnh cao của nền văn minh như  thế nào đi chăng nữa, mà tâm hồn vẫn còn chứa đầy tham, sân, si, ái, ố , hỹ, nộ, vẫn còn nhân, ngã, bỉ, thử. … thì nhân loại trên thế giới này vẫn còn hận thù, vẫn còn bất an đau khổ. Đồng thời đức Phật cũng đã chỉ cho chúng ta biết rằng, con người không những chỉ thông minh uyên bác mà còn có thể đạt đến “Tuệ Giác” do quá trình tu tập giác ngộ, chứ không phải nhờ vào sự thông minh học hỏi. Trí tuệ từ sở học càng đạt đến đỉnh cao thì cố chấp càng lớn, ngã mạn càng tăng, ngược lại, nhờ Tuệ Giác mà chúng ta có thể loại bỏ thói hư tật xấu, chuyển hóa vô minh, phá trừ ngã chấp … Nhờ có Tuệ giác mà chúng ta mới thấy được tự tánh của các pháp là vô thường, vô ngã … Chính nhờ Tuệ giác mà chúng ta thấy rằng, giữa chúng ta và muôn loài luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau như ruột thịt, do vậy chúng ta mới biết thương yêu nhau, bảo vệ cho nhau, chung sống với nhau trong ngôi nhà hòa bình trên thế giới. Còn ngược lại thì thế giới mãi là bãi chiến trường đầy dãy đua tranh, hận thù, bất an, đau khổ … 
Trước khi bàn đến nhân cách văn hóa của đức Phật, điều tôi muốn thổ lộ suy nghĩ của bản thân cùng quý vị là đức Phật ở trong tôi cũng là một con người bằng xương bằng thịt, trong lòng cũng tràn đầy cảm xúc, Ngài cũng sinh ra và rồi cũng giã từ cõi đời này cũng như bao con người khác trên thế gian, chứ không phải là một siêu nhân hay một đấng thần linh được tô vẽ đượm nhiều màu sắc tín ngưỡng hoang đường và bí ẩn. Nếu có khác chúng ta chăng, thì Ngài là một con người viên mãn về đạo đức vì Ngài đã đầy đủ đức hạnh Từ Bi Hỷ Xả; Ngài là một con người trí tuệ đã vì Ngài đã giác ngộ lý vô thường từ khi còn là Thái tử. Ngài là bậc trượng phu có ý chí, vì Ngài đã đoạn tuyệt ngũ dục ngay trong chốn hoàng cung, đã vứt bỏ tất cả uy quyền, danh vọng như chúng ta từ bỏ đôi dép rách. Ngài là người có tâm hồn cao thượng và tầm nhìn xa rộng, vì Ngài đã lập chí tu hành tìm cầu đạo giải thoát. Ngài là bậc đại tinh tấn vì đã chiến thắng ma quân, dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc, vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn để hoàn thành chí nguyện. Ngài là một con người thông minh siêu việt vì đã nhận ra nguyên lý tu hành là không nên sống buông thả theo cám dỗ dục vọng và cũng không nên quá ép xác, vì như vậy sẽ khó có cơ hội để tìm ra chân lý giác ngộ bản tâm. Ngài là một bậc đại giác ngộ vì đã chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Đạo quả mà Ngài chứng được cùng với đạo hạnh và lòng từ bi yêu thương chúng sanh như con một, tất cả đã hình thành nên nhân cách văn hóa tuyệt vời nhất của đức Phật, và những điều này đã khiến nhân cách văn hóa của Ngài trở nên lung linh siêu việt và bất tử trong lịch sử nhân loại.
Nói một cách gần gũi hơn, đức Phật là một con người đã giác ngộ, với lòng từ bi vô hạn, Ngài đã đem sự giác ngộ của bản thân để hóa độ chúng ta và chúng ta là những người chưa giác ngộ như đức Phật, điều này có nghĩa, chúng ta sẽ theo học giáo pháp của đức Phật, hành trì theo lời dạy của Ngài để được giác ngộ như Ngài. Chính những suy nghĩ như vậy, cho nên đối với tôi, nhân cách của đức Phật là biểu hiện về một nhân cách sống có ý nghĩa tuyệt vời nhất trong thế giới loài ngưòi, nó hiện hữu nơi một con người bằng xương bằng thịt trên thế gian này cách đây trên 2.500 năm.
Trên đây là những nét khái quát về điều kiện và nguyên nhân hình thành nên nhân cách văn hóa của đức Phật. Tiếp đến chúng tôi xin trình bày đôi nét về những ảnh hưởng tích cực đến đời sống nhân loại từ đạo hạnh và giáo pháp của Ngài. Trong phạm vi hạn hẹp của bài tham luận và trong sự hiểu biết vẫn còn nhiều giới hạn, chúng tôi chỉ xin nêu ra một vài ý kiến liên quan đến những ảnh hưởng quan trọng từ giáo pháp đức Phật đối với môi trường, đối với viễn cảnh hòa bình trên thế giới, đối với tính công bằng và bình đẳng trong đời sống xã hội loài người. Chúng tôi nghĩ rằng, đây là những vấn đề thời sự cần được nhiều người quan tâm để chia sẻ, để cùng chúng tôi chung tay góp phần cải thiện môi trường và hoàn thiện đời sống trong ngôi nhà hòa bình, thực hiện ước mơ của nhân loại.
 
4 ĐẠO PHẬT ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC ĐẾN ĐỜI SỐNG NHÂN LOẠI
4 A.ĐẠO PHẬT VÀ HÒA BÌNH
Đức Phật là đấng Đại Giác, Đại Từ Bi, từ tâm của Ngài đối với chúng sanh là vô biên vô hạn, chính vì vậy mà Ngài rất thương yêu và tôn trọng sự sống muôn loài. Khi còn là Thái Tử, trước sự việc người em họ Đề Bà Đạt Đa (Devadata) bắn rơi con thiên nga, Ngài đã cứu thoát và che chở, nuôi nấng cho đến khi nó bình phục và trả con thiên nga ấy bay về với bầu trời xanh và sự kiện này được ghi lại trong kinh điển. Ngài thương xót và cảm thông từ ánh mắt hoảng hốt và đau khổ của con cừu sắp bị tế đàn cho đến một đàn cá bị các em nhỏ hành hạ để vui chơi trong một vũng nước cạn mà Ngài chứng kiến tại thành Xá Vệ (Savatthi) là những hình ảnh sống động nói về đức hạnh Từ Bi cao cả của đức Phật. Chỉ với đàn cá bé nhỏ mà ngài còn động lòng thương xót, huống gì là nói đến muôn loài và nhân loại … Một trường hợp khác nữa, trong một lần voi điên Nalagiri đã được cho uống rượu say, hung tợn nhắm thẳng hướng Ngài chạy đến, mọi người bối rối bàng hoàng. A Nan (ANanda) đã tính đem thân mình che chở cho đức Phật, nhưng Ngài đã bình tĩnh tiến bước về phía nó với một tình yêu thương vô hạn, thay vì chà nát đức Phật, thì con voi lại phủ phục xuống chân Ngài với một biểu hiện rất đáng kinh ngạc là nước mắt nó ứa ra tỏ vẻ vô cùng hối hận trước việc điên rồ của nó. Cảm hóa lực từ đại bi tâm của đức Phật là như vậy đó, với niềm tin tuyệt đối rằng loài vật sẽ không hãm hại mình, sẽ trở nên hiền hòa đáng yêu nếu như chúng ta thật sự trải lòng yêu thương nó, chính vì vậy mà đức Phật cảm hóa được một con vật hung dữ dù trong tình trạng nó không còn “lý trí”. Với một niền tin sâu sắc vào việc nếu chúng ta trải lòng từ bi thương xót vạn loài thì sẽ không có bất cứ loài vật nào sanh tâm thù hận hay hãm hại đến mình. Trên góc độ khoa học thì điều này có vẻ hoang đường, thế nhưng trên từ trường phát xuất từ chiều sâu tâm linh bởi lòng từ bi thì nó lại có một tác dụng cảm hóa vô cùng lớn lao. Ngài cho rằng loài vật cũng có tình cảm như con người, cũng cảm nhận được tình cảm của loài người và điều ấy Ngài đã thể hiện.
Đạo Phật là đạo của một thế giới hòa bình vĩnh cữu vì nó bước ra từ ánh sáng trí tuệ và suối nguồn yêu thương của đức Phật. Thật vậy, nơi nào có ánh sáng trí tuệ và suối nguồn yêu thương của đức Phật soi rọi đến thì nơi đó cây cối đâm chồi nảy lộc, vạn vật vui mừng hớn hở, cảnh giới hòa bình cùng niềm hạnh phúc của muôn loài lan tỏa trong đời sống, và ngược lại, chính nhờ ảnh hưởng tâm từ bi của Ngài mà hận thù trong đời sống con người được hóa giải, chiến tranh chết chóc được đẩy lùi. Nói về đạo Phật với hòa bình, qua kinh tạng PaLi, chúng tôi được biết, đức Phật đã nhiều lần ngăn chặn những cuộc chiến tàn khốc sắp xảy ra giữa vương quốc Kiều Tất La và tiểu quốc Cộng Hòa Thích Ca, quê hương xứ sở của Ngài, dù Ngài biết chắc rằng nhân quả nghiệp báo oán đối hận thù giữa chúng sanh với nhau khó có thể tránh khỏi. Tuy vậy, Ngài vẫn nhiều lần đứng ra can thiệp. Điều này chứng tỏ rằng, lòng nhân từ và tâm đại bi của đức Phật là vô lượng vô biên bởi Ngài đã không một phút nghỉ ngơi vì sự nghiệp hóa độ chúng sanh, mong muốn chúng sanh có được một đời sống hòa bình an lạc.
Dù là một đấng giác ngộ đã thoát ly tam giới, nhưng đức Phật luôn quan tâm đến một thế giới hòa bình, nhân loại được ấm no hạnh phúc. Ngài đã toàn tâm thực hiện bất cứ điều gì trong khả năng mà Ngài có thể can thiệp được. Với quê hương của mình, xứ sở mà cuộc đời của Ngài đã gắn kết sâu sắc nhất từ khi còn là Thái tử đến khi hành đạo, đức Phật đã dốc hết sức mình kiến tạo nên một đất nước hòa bình thịnh vượng, dù lúc đó tuổi Ngài đã cao sức Ngài đã yếu. Trong Kinh tạng PaLi đã ghi lại rằng, vào thời Phật tại thế, Ngài đã dùng uy tín của mình để tiến cử vương tử Ma Ha Nam (Mahanama) lên ngôi kế vị vua Tịnh Phạn (Suddhodana) vừa băng hà. Đức Phật chủ động việc này, vì theo Ngài thì vương tử Ma Ha Nam có đủ đức lẫn tài để đảm đương ngôi vị quốc vương. So với các vị vương tử khác thì với đức độ của vương tử Ma Ha Nam chắc chắn sẽ đem lại cho muôn dân một đời sống hòa bình thịnh vượng. Mà quả thật là như vậy, dưới thời của vua Ma Ha Nam đời sống dân chúng ấm no, an vui, hạnh phúc, đất nước thanh bình thịnh vượng đúng như mong muốn của Ngài.
Một trường hợp thể hiện từ tâm của đức Phật và thái độ yêu chuộng hòa bình của Ngài nữa, theo kinh tạng Pa Li ghi lại gằng, nhân một lần về thăm quê ngoại, vương tử Lưu Ly đã bị giới quý tộc của cộng hòa Thích Ca (Sakya) đã khinh miệt về sự xuất thân của mẹ mình. Vô cùng uất hận vì sự miệt thị đó, Lưu Ly ghim sâu hận thù này vào tâm trí với lời thề độc là sẽ lấy máu của dòng họ Thích Ca để rửa sạch mối nhục này. Thế rồi việc gì đến cũng đã đến, khi vừa lên ngôi vua, Lưu Ly Vương liền dốc hết quân lực tiến thẳng về xứ sở cộng hòa Thích Ca bé nhỏ. Tuy nhiên cả ba lần kéo quân chinh phạt thì cả ba lần thì đều gặp đức Phật ngồi chờ ngay biên giới để xin ông đừng dùng vũ lực mà tàn sát lẫn nhau … Dù với tâm thù hận đang dâng cao ngút trời, nhưng Lưu Ly Vương lại có một sự tôn trọng đặc biệt dành cho đức Phật. Cả ba lần đó, ông đều bước xuống chiến xa ra lễ đức Phật và thỉnh cầu Ngài nên quay về an dưỡng tuổi già, đồng thời cũng thỉnh cầu đức Phật hãy dời sang cư trú tại vương quốc Kiều Tất La của ông, vì vùng đất này có nhiều cây râm mát rất phù hợp với đời sống thiên về thiên nhiên của đức Phật. Sau ba lần tấn công Cọng Hòa Thích Ca thất bại, nhưng đến lần thứ tư, nhân lúc đức Phật đương hoằng pháp ở nơi xa không về can thiệp kịp, Lưu Ly Vương đã ồ ạt thần tốc kéo quân sang bình địa thành Ca Tỳ La (Kapila), tàn sát gần như toàn bộ dòng họ Thích Ca, ngoại trừ chỉ một số ít người sống sót nhờ trốn được … Trong một trường hợp khác, khi vua A Xà Thế đến tham kiến đức Phật và xin ý kiến về nhà vua muốn cất binh xâm chiếm nước Bạt Kỳ, đức Phật khéo léo phản đối cuộc chiến tranh vô bỗ này bằng cách khuyên vua A Xà Thế không nên cất binh đánh nước Bạt Kỳ, vì nước này có những yếu tố mà xưa nay chưa có một quốc gia nào dám xâm chiếm đó là: 1/ Thường hội họp nhau để giải quyết vấn đề chung của quốc gia . 2/ Đoàn kết thuận hòa với nhau. 3/ Thi hành đúng theo pháp luật chế định 4/ Tôn kính bậc trưởng thượng. 5/ Kính nể hàng phụ nữ . 6/ Bảo tồn các đền thờ trong xứ . 7/. Sùng bái các bậc tiền nhân . Ơ đây chúng ta thấy rất rõ về quan điểm của đức phật về chiến tranh .
Chúng ta thấy rằng đức phật là một con người, một con người tình cảm nhưng trí tuệ, không xa lánh cuộc đời nhưng không bị cuộc làm ô uế. Đối với xã hội, vì lơị ích cho một quốc gia đức phật đã từng dạy bổn phận của một vị lãnh tụ quốc gia muốn làm vị minh quân phải có 10 điều : 1.Thanh liêm. 2- Nghe lời can gián của người khác. 3- Thi ân cho nhân dân. 4- Thu thuế đúng pháp luật. 5- Phòng the phải nghiêm túc. 6- Không say sưa rượu chè. 7- Siêng năng nghiêm chỉnh. 8- Xét xử nghiêm túc công bằng. 9- Hòa hợp với quần thần. 10- Giữ gìn sức khỏe bản thân (Kinh Tăng Nhứt A Hàm). Đây là lời dạy đầy giá trị và hữu hiệu cho bất cứ một nguyên thủ quốc gia nào muốn trị quốc an dân. Tất cả những việc làm của đức Phật điều duy nhất là vì hạnh phúc, hòa bình cho nhân loại.
Như vậy, cho đến tận cuối đời, đức Phật đã không quản ngại gian khổ, Ngài đã đem tấm thân già ra đến tận biên cương hai nước để ngăn chặn một cuộc tương tàn tương sát, thế nhưng mọi nỗ lực của đức Phật đã không thể cứu vãn nỗi tình hình khi quả báo của chúng sanh đã đến lúc chín mùi. Qua sự kiện này, chúng tôi nhận thấy, hành động dùng uy tín và đạo đức của bản thân hay đúng hơn là Ngài đã vận dụng đại bi tâm để cứu khổ chúng sanh, đức Phật của chúng ta đã làm tất cả những gì có thể làm được để hóa giải cuộc chiến tương tàn tương sát điển hình này, dù biết trước rằng, nhân quả nghiệp báo mà chúng sanh phải gánh, phải trả là điều tất yếu khó có thể can thiệp thành công. Điều này đã nói lên nhân cách văn hóa tuyệt vời của đức Phật trong đời sống con người. Cũng qua đó, chúng ta thấy rằng, để hóa giải nghiệp chướng, thì tự thân vua Lưu Ly phải khởi tâm từ bi xóa bỏ hận thù với dòng họ Thích Ca mới có thể thay đổi cục diện và tránh khỏi quả báo khốc liệt về sau bởi hành động tàn sát và tư tưởng hận thù hiện tại.
Chính vì quán xét sâu xa động cơ gây nên chiến tranh và nguyên lý để kiến tạo một thế giới hòa bình bền vững mà đạo Phật luôn triển khai triệt để tinh thần Từ Bi Hỷ Xả trong đời sống tu hàng của tứ chúng. Cũng xuất phát từ tâm từ bi này và cũng là để chấm dứt tận gốc rễ chiến tranh, đạo Phật đã chủ trương truyền trao năm giới cho bất cứ một Phật tử nào khi bắt đầu bước vào con đường học Phật. Trong năm giới thì giới “không sát sanh” được xem là giới “trọng” mang tính chất quyết định để khơi dậy và phát triển lòng từ nơi mỗi con người. Khi giữ được giới “không sát sanh” tức là chúng ta đã cắt đứt được mầm mống chiến tranh gây ra đau khổ và hình thành một cảnh giới an lạc trong tâm hồn mỗi người, nói rộng ra, cả nhân loại giữ được trọn vẹn giới “không sát sanh” thì chắc chắn rằng loài người sẽ được sống an ổn trong ngôi nhà hòa bình của nhân loại. Quả thật như vậy, không sát sanh hại vật chính là một viên gạch vô cùng quí giá để xây dựng ngôi nhà hòa bình mà nhân loại bao đời hằng mơ ước.     
Đến nay chúng ta có quyền tự hào cho rằng, đạo Phật là đạo của hòa bình duy nhất trên hành tinh này và điều này đã được LHQ thừa nhận. Thật vậy, suốt chiều dài lịch sử trên 2500 năm qua, dù bất cứ thời đại nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào, hễ nói đến đạo Phật thì chúng ta thường nhắc đến tứ vô lượng tâm Từ Bi Hỷ Xả, đây là bốn đức hạnh cao quý để xây dựng một đời sống hòa bình mà đức Phật đã luôn hướng về chúng sanh trong suốt quá trình hoằng pháp độ sanh. Bốn đức hạnh Từ Bi Hỷ Xả này cũng đã được hình thành, được trưởng dưỡng và được nuôi lớn trong tâm hồn mỗi người con Phật. Như chúng ta đã biết, nguyên nhân chính yếu gây nên chiến tranh tàn sát lẫn nhau là do lòng tham vô bờ bến của con người và sự đố kỵ, đối nghịch và thù hận muôn kiếp của loài người. Chúng tôi thiết nghĩ, nếu con người hạn chế và biết dừng tâm tham lam thì ắt sẽ không có tranh giành nhau, hơn thua nhau; và nếu không có tranh giành xâu xé nhau thì sẽ không có đối ngịch và thù hận. Không hơn thua tranh đoạt nhau từ tư tưởng cho đến vật chất và không có đối nghịch và thù hận trong các mối quan hệ thì chắc chắn rằng thế giới này sẽ không có chiến tranh, loài người sẽ dần dần thoát khỏi cảnh lầm than đau khổ do hậu quả chiến tranh gây ra. Về điều này, những cuộc chiến xảy ra hằng ngày trên thế giới đã chứng minh một cách thuyết phục nội dung này. Thật vậy, vì tham lam mà thực dân đế quốc đã đem quân xâm chiếm nước ta gây ra cảnh lầm than nồi da xáo thịt và cuộc chiến giải phóng giành lại độc lập bảo vệ giang sơn xã tắc của nhân dân ta là một cuộc chiến chính nghĩa. Sau khi thắng lợi, nhưng dân tộc ta không những không thù hận thực dân đế quốc mà lại còn xóa bỏ hận thù trong quá khứ, cùng bắt tay nhau hướng đến sự phát triển lâu dài và hòa bình bền vững. Phải chăng đây là tinh thần “lấy ân báo oán” và “lấy tình thương xóa bỏ hận thù” xuất phát từ tinh thần Từ Bi Hỷ Xả của đạo Phật. Có thể nói đây là một sự vận dụng sâu sắc truyền thống đạo đức nhân ái ngàn đời của dân tộc, mà dân tộc Việt nam chúng ta lại có sự ảnh hưởng và gắn kết sâu xa với tinh thần Từ Bi hỷ Xả của đạo Phật. Chính thái độ và cách ứng xử này đã đem lại hòa bình thịnh vượng cho đất nước và tạo được ảnh hưởng tích cực trong các mối quan hệ quốc tế, thu hút được nhiều thiện cảm đối với thế giới khi nghĩ về con người và đất nước Việt nam. Và bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng có tinh thần lấy từ bi xóa bỏ hận thù, chắc chắn cũng sẽ mang lại một kết quả thuyết phục trong việc kiến tạo một đất nước hòa bình thịnh vượng như Việt Nam chúng ta ngày nay.
Nói về đức hạnh Hỷ Xả của Ngài, thì có lẽ trong đời sống thế gian không có một con người thứ hai thể hiện nỗi. Trong kinh tạng PaLi còn ghi lại rất nhiều câu chuyện liên quan đến Tứ vô luợng tâm của đức Phật. Có câu chuyện rằng: “Khi đức Phật cùng với A Nan (A Nanda) đi vào thành Kiều Thượng Di (Kosambi) để khất thực, không may cho ngài là lúc đó Ngài gặp phải Mãgandiya là hoàng hậu xứ Kiều Thượng Di (Kosambi) vợ của vua Udena, một nhân vật vô cùng oán ghét đức Phật. Sự thể khi còn là thiếu nữ, bà đã đem lòng yêu đức Phật, tất nhiên là đức Phật không thể đáp lại tình yêu của bà. Cũng nhân duyên này đức Phật đã thuyết một bài pháp về quán thân bất tịnh cho bà nghe. Nhưng cũng kể từ đó, bà căm thù đức Phật sâu sắc, vì bà cho rằng đức Phật đã chê bai thân thể là bất tịnh … Cho đến khi thấy cơ hội rửa hận đã tới, bà liền cho người ra chận đường đức Phật và chửi bới những câu thậm tệ nhất.  Trước những lời chửi rủa mạ nhục thậm tệ, đức Phật bình thản đứng lặng im, sau đó Ngài dạy A Nan: “Hãy can đảm đối đầu với sự thật, mọi chuyện sẽ qua rất nhanh , nhưng nhớ đừng sanh tâm oán hận”.
Chính vì một lịch sử có khởi nguồn tuệ giác và đạo đức vĩ đại như vậy mà những ảnh hưởng tích cực của đạo Phật là muôn vàn to lớn khó có thể kể ra hết được. Chỉ liên hệ một vài ảnh hưởng điển hình từ nền tuệ giác và giáo pháp cao siêu của đức Phật đến vận mạng dân tộc và sự hưng thịnh của đất nước Việt Nam chúng ta sẽ thấy rất rõ điều này. Chẳng hạn ngay trong thời kỳ dựng nước, nhờ tuệ giác của các Thiền sư mà Phật giáo đã đóng góp tích cực cho công cuộc dựng nước. Cũng buổi ban đầu mới mở mang bờ cõi, các triều đại đã biết lấy đạo đức Phật giáo để xây dựng một xã hội thuần lương, một dân tộc thuần thiện, điều này đã được văn học dân gian truyền tụng bàng bạc trong đời sống, như “Đầu làng có một cây đa, giữa làng cây thị xa xa ngôi chùa” hay “Rủ nhau xuống biển mò cua, lên non hái củi vào chùa nghe kinh”. Trong quá trình giữ nước, lịch sử thường nhắc đến các triều đại huy hoàng nhất, đó là triều đại Lý Trần. Dưới các triều đại này các thiền sư nổi tiếng với tuệ giác siêu việt đã giữ vai trò Quốc sư góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước như thiền sư Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Mãn Giác, Giác Hoàng, Không Lộ … Các thiền sư đã trực tiếp giúp nhà vua thiết lập kế hoạch, thảo văn thư, soạn chiếu chỉ, tiếp ngoại giao đoàn. Như vậy dù đạo Phật không đem của cải vật chất hay vũ khí tối tân để giúp vua, giúp nước đánh đuổi ngoại xâm, xây dựng nước nhà, mà bằng tuệ giác đã giúp vua giúp nước, đánh thắng oai hùng quân xâm lược xây dựng nên một thời đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử, Việt Nam đã đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, nhờ vào đâu mà dân tộc ta đã làm nên câu chuyện tưởng chừng như cổ tích thần kỳ này? Đó là dân tộc chúng ta đã dựa sức mạnh đoàn kết toàn dân, nhờ Bác Hồ đã biết vận dụng nguồn tuệ giác và nền đạo đức truyền thống ngàn đời của dân tộc vào công cuộc giữ gìn bờ cõi. Bác Hồ đã từng tuyên bố: “Lấy dân làm gốc, cán bộ đảng viên phải là đầy tớ của dân”.
Trong cuộc đời ngũ trược ác thế này, nếu không có tuệ giác soi đường, nếu không có từ tâm ban rải thì sẽ khó có được một đời sống hòa bình hạnh phúc. Nét đặc thù của Phật giáo là không bao giờ gieo oán kết thù, không bao giờ bạo động hoặc sách động, mà Phật giáo chỉ dùng lưỡi gươm trí tuệ, cây cung từ bi và áo giáp nhẫn nhục để cảm hóa và xây dựng trên bước đường hoằng truyền chánh pháp. Chính vì vậy mà Liên Hiệp Quốc đã chính thức công nhận và lấy ngày Phật Đản Sinh là ngày lễ hội tôn giáo toàn cầu, đó cũng là ngày hội hướng đến hòa bình của nhân loại.
 
4 B. ĐẠO PHẬT VÀ TINH THẦN BÌNH ĐẲNG
Với chủ trương mọi người đều bình đẳng và đều có giá trị, xứng đáng được trân trọng như nhau, đức Phật không hề phân biệt trong cách đối xử. Nói về quan điểm nam nữ bình đẳng của đức Phật, tác giả Schumann đã ghi: “Trong Kinh tạng Pàli, tất cả các câu chuyện kể những cuộc hội kiến giữa đức Phật và phụ nữ đều chứng tỏ ngài xem họ bình đẳng với nam giới. Sự kiện một số nữ nhân ác hạnh, hay tranh cãi và một số nữ nhân có thể lôi cuốn các Tỳ Kheo ra khỏi chánh đạo, vẫn không cản trở Ngài công nhận rằng nữ giới có khả năng đạt kiến thức cao và nhiều nười nữ còn vượt hẵn nam giới về lòng nhân từ và sự hi sinh tận tụy”.
Bằng tuệ giác, đức Phật đã tuyên bố một thông điệp ngắn gọn đầy tính nhân bản: “Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn và dòng máu cùng đỏ”. Nước mắt tượng trưng cho đau khổ, không chỉ thường dân mới chịu đau khổ mà vua chúa cũng không thể tránh khỏi khổ đau. Dòng máu tượng trưng cho hạnh phúc, không chỉ có vua chúa mới có quyền hưởng hạnh phúc, mà dân đen cũng có quyền được hưởng hạnh phúc vì cũng có dòng máu đỏ như nhau.
Về phương diện bình đẳng trong đời sống, đức Phật đã khiến cho giai cấp quí tộc đương thời phải bàng hoàng ngạc nhiên đồng thời vô cùng phẫn nộ khi Ngài công khai xác nhận tình trạng bình đẳng của con người. Không chỉ công khai xác nhận bằng lời nói, Ngài còn thâu nhận vào Tăng đoàn tất cả mọi thành phần trong xã hội, miễn là người thành tâm và có ý chí tìm cầu đạo giải thoát. Ngài đối xử bình đẳng đối với tất cả mọi người, dù đó là những người cùng khổ, sự kiện đặc biệt thể hiện tron việc đức Phật đã chấp thuận người gánh phân Ni Đề (Nidà) được xuất gia và gia nhập Tăng đoàn. Vì Ngài quan niệm, những người nghèo khổ thường mang một mặc cảm tâm lý rất lớn, thường thì họ bị xã hội bỏ rơi và chà đạp, cũng từ suy nghĩ này mà đức Phật không ngồi chờ đợi họ đến với Ngài, mà Ngài chủ động tìm đến họ. Trong lịch sử Phật giáo ghi lại rằng, dù Ni Đề cố tình tránh mặt đức Phật với mặc cảm thân phận nhiều đời, đã thưa với đức Phật là ông không thể nào xuất gia vì ông xuất thân từ tập cấp Thủ Đà La hạ tiện. Thế nhưng đức Phật đã quyết tâm tìm mọi cách để nói cho anh biết anh cũng là một con người, cũng có giá trị như bao người khác và khuyên anh không có gì để phải xấu hổ và mặc cảm bởi xuất thân và nghề nghiệp của mình. Sau khi thuyết pháp, đức Phật đã cho phép anh chàng gánh phân Ni Đề (Nidà) được xuất gia. Sự kiện này làm những người bảo thủ ở tập cấp trên phẫn nộ. Vua BaTư Nặc (Pasenadi), một vị vua rất sùng kính đức Phật cũng đến gặp ngài để bày tỏ sự bất bình của mình. Vua BaTư Nặc đã thưa với đức Phật nếu làm như vậy sẽ gây nên sự ô nhục cho hàng Sa Môn và thật là khó khăn cho sự cung kính, lễ bái của hàng vua chúa. Thế nhưng đức Phật đã trả lời nhà vua là Phật pháp có khả năng dung chưa hết mọi tầng lớp cũng như đại dương có khả năng chứa đựng được nước từ tất cả các nguồn khác nhau chảy về.
Một người đệ tử rất nổi tiếng khác của đức Phật cũng xuất thân từ giới bình dân, đó là người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (Upàli). Đức Phật, nhân một lần gặp ông, ngài đã khuyến khích ông xuất gia. Sau khi sống đời tu sĩ, dưới sự hướng dẫn của đức Phật, Ưu Ba Ly (Upàli) đã trở thành bậc thượng thủ về giới luật, đã giác ngộ ngay trong cuộc đời Tăng sĩ của mình, được tất cả mọi người kính nể và tôn trọng.
Đối với đức Phật thì sự thấp hèn hay cao quí, sự giàu sang hay cùng khổ đều không có nghĩa gì, tất cả đều bình đẳng như nhau. Chỉ có hành động, suy nghĩ và lời nói của mỗi cá nhân là có thể xác định được là họ cao thượng hay thấp hèn. Ngài đã tuyên bố một cách rõ ràng và dứt khoát điều này trong Kinh Tăng Chi IV: “Này các Tỳ Kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy”.
Nói về bình đẳng trong đời sống tình cảm, sinh lý, chúng tôi thật sự ngạc nhiên trước sự hiểu biết tinh tế của đức Phật về các vấn đề quyến rũ muôn đời của phụ nữ đối với nam giới. Trong kinh Tăng Chi I,  Ngài dạy: “Này các Tỳ Kheo, ta không thấy một hình sắc nào làm say đám tâm trí đàn ông như hình sắc đàn bà. Ta không thấy một âm thanh, một mùi hương, một vị, một xúc nào làm say đắm tâm trí đàn ông như âm thanh, mùi hương, vị, xúc, của đàn bà”. Điều nầy nói lên ý nghĩa của tính nhân văn, của nhu cầu mà Ngài cảm nhận trong sinh hoạt của loài người.
Mặc khác về quan điểm nam nữ, có một lần khi đang hầu chuyện với vua nước Kiều Tất La thì quần thần báo tin với nhà vua chánh hậu vừa hạ sinh một vì công chúa. Vua nghe không vui. Đức Phật đã trình bày quan điểm của mình với nhà vua như sau: “Một em bé gái, tâu đại vương, còn quí hơn một đứa con trai, lúc trưởng thành em có thể là người đức hạnh vẹn toàn, biết kính nể và tôn trọng cha mẹ chồng, một người vợ hiền, đứa con mà sau này em sẽ mang vào lòng có thể làm nên đại sự và trị vì một vương quốc vĩ đại, đúng vậy, đứa con của một người vợ cao thượng sẽ trở thành một người hướng đạo chân chính cho một quốc gia”. Chúng ta thấy rằng, ngay từ thời đức Phật mà ngài đã khẳng định về giá trị trí tuệ và khả năng cống hiến của một phụ nữ không thua gì một người đàn ông trong xã hội. Vì thế mà ngay từ thuở đầu, Ngài đã thâu nhận phái nữ vào trong hàng xuất gia giải thoát của ngài. Tính bình đẳng của đức phật được Ngài khẳng định như sau : “ Do tạo tác , hành động mà người nầy trở thành kẻ cùng đinh , ngược lại , cũng do tạo tác và hành động mà người kia trở thành bà la môn”. như vậy theo lời dạy này , chúng ta đừng bao giờ sợ rằng xã hội bất công với chúng ta , đừng sợ rằng chúng ta cống hiến nhiều mà thành quả thu gặt không được bao nhiêu , vì đây là sự bình đẳng hiển nhiên giữa nhân và quả đối với tất cả mọi con người trên cuộc đời này . Nếu chúng ta cống hiến , phục vụ nhiều thì chúng ta sẽ được đãi ngộ nhiều, bằng ngược lại.
Về tính bình đẳng Hồ Chủ Tịch người kết tinh trong tinh thần của dân tộc VN đã từng tuyên bố trong bảng Tuyên Ngôn Độc Lập mà mọi người yêu chuộng hòa bình và bình đẳng trên thế giới hầu như ai cũng ngưỡng vọng. Đây là sự bắt gặp giữa cái nhìn tuệ giác của đức Phật và tư tưởng Hồ Chí Minh.
 
4 C. ĐẠO PHẬT VÀ MÔI TRƯỜNG
Hễ nói đến đạo Phật nhiều người liên tưởng ngay đến một tôn giáo chú trọng đến việc tu hành giải thoát hoặc nghĩ đến một mối đạo chỉ chú trọng đến từ bi hỷ xả. Thế nhưng khi tìm hiểu mối liên hệ sâu xa và những ảnh hưởng tích cực từ đạo Phật đến đời sống nhân loại, chúng ta mới vỡ lẽ đạo Phật lại có mối liên hệ mật thiết rất chặt chẽ đến việc bảo tồn hệ sinh thái và cải thiện môi trường hiệu quả nhất. Vì sao vậy? Như đã nói, vì đạo Phật là đạo từ bi trí tuệ, nếu chúng ta nhận thức một cách sâu sắc mọi vấn đề trong đời sống kết hợp với từ tâm của tất cả chúng ta thì chắc chắn rằng chúng ta sẽ không tổn hại đến bất cứ điều gì dù đối tượng là một cây kim hay ngọn cỏ, huống gì nói đến việc phá rừng lấp sông xẻ núi, tàn sát muôn loài, hủy diệt lẫn nhau. Chính những điều này đã chứng tỏ dù đạo Phật không trực tiếp chủ trương việc bảo vệ môi trường, nhưng kỳ thật đạo Phật lại là đạo sinh ra để giải quyết tận gốc những vấn nạn nghiêm trọng nhất về môi trường, mà các giải pháp bảo vệ môi trường trong đời sống thế gian xem ra chỉ có thể giải quyết ở phần ngọn và rất hạn chế.
Nói về việc bảo vệ môi trường ở nước ta thì ấn tượng sâu sắc mãi ghi đậm trong tâm hồn mỗi người dân nước việt, đó là cùng nhau thực hiện việc trồng cây theo lời Bác Hồ phát động trong mỗi dịp tết đến. Tết trồng cây, đó chính là một biểu hiện nhân văn sâu sắc về đạo lý sống vị tha. Tức là sống để làm việc, để gánh vác, để hy sinh, để nghĩ đến thế hệ mai sau … chứ không phải sống để hưởng thụ! Và Bác Hồ đã từng xắn tay áo lên tự tay trồng cây không phải một năm mà là nhiều năm như vậy, không phải đợi đến Tết hay dịp lễ, mà trồng cây bất cứ nơi nào, lúc nào, hễ có điều kiện là Bác thực hiện việc trồng cây mà theo Bác là để làm gương sáng cho nhân dân trong việc bảo vệ môi trường. 
Nhân loại vẫn đang lo ngại vì mâu thuẫn trầm trọng giữa những chỉ số phát triển kinh tế và sự tàn phá môi trường sống của con người. Theo một nghiên cứu gần đây nhất thì cho thấy theo tốc độ phá rừng hiện nay, với 11 triệu ha mỗi năm, đến năm 2040 thế giới sẽ mất đi từ 17% đến 35% loài thực vật trong số 10 triệu loài. Vào năm 2040 hàng ngày sẽ có từ 20 đến 70 loài bị tuyệt chủng.
Thật vậy, môi trường đang che chở và bảo bọc cho sự sống của chúng ta đang bị chính chúng ta tàn phá mỗi ngày. Hậu quả bi thảm đã tàn phá nhiều nơi trên thế giới như lũ lụt, thiên tai, sóng thần. Quả báo này lại là nguyên nhân tăng thêm sự mất cân bằng sinh thái làm cho con người càng thêm khốn khổ.
 
Tại Ấn Độ hai mươi lăm thế kỷ trước, cũng đã từng xảy ra những trận mưa lũ kinh hoàng, chẳng hạn trong kinh tạng Pàli, đức Phật đã mô tả về một trận lũ lụt như sau: “Này các thầy Tỳ Kheo, một thời có mưa nổi lên. Khi mưa lớn nổi lên, này các Tỳ Kheo, lụt lớn sanh khởi. Do lụt lớn sanh khởi nên các làng bị cuốn trôi, các thị trấn bị cuốn trôi, các phố thị bị cuốn trôi”. (Kinh Tăng Chi I). Nguyên nhân gây nên vấn nạn này, theo đức Phật đó chính là do ô nhiễm và mất cân bằng hệ sinh thái môi trường. Trong một đoạn kinh, Ngài đã nêu ra những một vài tác nhân do hành vi con người gây ra: “Ví như, này các Tỳ Kheo, một hồ nước uế nhớp, bị khuấy động đụng bùn. Tại đây có một người đứng trên bờ, không thể thấy các con ốc, các con sò, các hòn sạn ... các đàn cá qua lại, đứng yên. Vì cớ sao ? Vì nước bị khuấy đục” (Kinh Tăng Chi I).
Sự thẩm thấu về môi trường, về khí hậu và thời tiết của đức Phật không dừng lại ở đó, Ngài còn mô tả các hiện tượng do ảnh hưởng thời tiết liên quan đến mùa màng một cách sinh động như sau: “Khi nào thời tiết và năm đi sai quỹ đạo, khi ấy gió thổi sai lạc và trái mùa ... Khi nào trời mưa không điều hòa, khi ấy lúa chín trái mùa”. (Kinh Tăng Chi I). 
Khi chúng ta bàn về những ảnh hưởng tích cực đến môi trường sống của nhân loại từ giáo pháp của đức Phật, chúng tôi nhận thấy, yếu tố cần thiết phải xét đến là cách giải quyết đời sống kinh tế của loài người mà đức Phật quan tâm đến. Bởi đây là một trong những nguyên nhân gây nên sự tàn phá môi trường. Về điều này đức Phật đã dạy đệ tử cần phải thực hiện “chánh mạng”, nghĩa là phải kiếm sống một cách lương thiện, đúng đắn, không làm tổn hại cho mình, cho người và muôn loài. Cách ứng xử về vấn đề kinh tế như vậy, nếu được thực hành một cách trọn vẹn, thì chúng ta sẽ thực hiện việc bảo vệ môi trường sống của con người một cách hoàn hảo. Thực hiện phương cách sống chánh mạng, chúng ta sẽ không tàn phá rừng và săn giết muôn thú vô tội vạ (nếu như nó không thực sự tối cần thiết cho cuộc sinh tồn).
Xuất phát từ lòng thương yêu và tôn trọng sự sống của muôn loài, việc cấm sát sanh của đức Phật là một biểu hiện cụ thể nhất. Cũng trên tinh thần từ bi vô hạn này, nếu xét trên lăng kính của thời đại thì nó có tác dụng góp phần bảo vệ môi trường thiên nhiên một cách tích cực và hiệu quả. Bằng chứng là ngày nay các quỹ bảo vệ động vật hoang dã đã lần lượt ra đời trên thế giới, chẳng hạn như đảng Xanh ở châu Âu đã nhận ra sự nguy hiểm của việc tàn phá môi trường, nên họ đã lặn lội khắp nơi trên thế giới để bảo vệ các loài vật sắp bị tuyệt diệt. Những hành động của họ ngày hôm nay thật phù hợp với tinh thần từ bi và tôn trọng sự sống của đức Phật, mặc dù phần đông trong số họ không phải là người chịu ảnh hưởng tinh thần từ bi của đạo Phật.
Vấn đề ăn của đức Phật và đệ tử của ngài đơn giản như vậy, song, vấn đề mặc của ngài và các đệ tử lại càng đơn giản hơn nữa. Chỉ cần một tấm y vải thô sơ, vừa trang nghiêm, vừa lịch sự, thế là đủ. Trong quá khứ và hiện tại, rất nhiều loài thú quí hiếm bị tàn sát để phục vụ cho nhu cầu y phục xa xỉ của con người. Cách thức giải quyết vấn đề ẩm thực và ăn mặc của đức Phật giản dị và biết tôn trọng người và loài vật cũng là một nét đẹp trong văn hóa bảo vệ thiên nhiên và môi trường.
Trong lịch sử nhân loại, những thánh nhân thường yêu thương con người và thiên nhiên, nhưng yêu thiên nhiên, sống hòa nhập với thiên nhiên như đức Phật là một trường hợp hy hữu. Những nơi ngài đã từng đi qua và dừng lại để an trú, thuyết pháp, ngài vẫn luôn có một cách ứng xử đầy yêu thương và tôn trọng. Với tình yêu thiên nhiên, tôn trọng môi trường sống như vậy, do đó cách ứng xử của đức Phật là một tấm gương sáng cho thời đại của chúng ta, khi loài người đang nhân danh văn minh để tàn phá những khu rừng, tàn phá thiên thiên một cách vô tội vạ vì lợi ích trước mắt, rất thiển cận, thì văn hóa ứng xử với thiên nhiên của đức Phật lại càng trở nên ý nghĩa hơn bao giờ hết.
Cuộc đời đức Phật từ lúc Đản Sanh cho đến lúc nhập Niết Bàn là một minh chứng xác thực cho một đời sống gần gũi với thiên nhiên và cỏ cây: Ngài sinh ra dưới gốc Vô Ưu vào mùa trăng tròn. Ngài thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề trong rừng sâu bên dòng sông Ni Liên Thuyền cũng trong một mùa trăng tròn. Ngài thuyết bài pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển. Và ngài từ giã thế gian cũng tại khu rừng dưới hai cội Sa La đại thọ … Trong cuộc sống thường nhật mà Ngài đã mô tả được ghi lại trong kinh điển: “... Ở đây, này Bà La Môn, ta sống gần một làng hay một thị trấn. Buổi sáng ta đắp y, cầm bát đi vào làng ấy, hay thị trấn ấy để khất thực. Sau khi ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, ta đến một góc cuối của ngôi rừng. Tại đấy, ta lượm cỏ hay lá chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già” (Kinh Tăng Chi I).
Cuộc sống của ngài gắn liền với thiên nhiên như vậy, nên ngài luôn có thái độ yêu mến và trân trọng thiên nhiên. Điều khiến chúng ta ngạc nhiên hơn nữa là ngài đã từng nhiều lần tuyên bố cỏ cây cũng có cuộc sống của riêng nó. Ngài tỏ thái độ của mình bằng cách tôn trọng sự sống của thiên nhiên mà trong các luật chế ra cho các hàng đệ tử xuất gia, ngài đã cấm đệ tử cùa mình tàn hại đến cỏ cây. Tinh thần văn hóa yêu thiên nhiên cây cỏ đó đã được thể hiện rất rõ ở hành động : “Ta đến góc cuối của một ngôi rừng” và “Ta lượm cỏ hay lá chất thành một đống”. Chỉ là hành động lượm thôi, rất nhẹ nhàng và hiền hòa, rất tôn trọng và lịch thiệp như đối xử với một con người thật sự.
Kinh điển cũng thuật lại việc thí chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika) thường hay đến viếng thăm đức Phật mỗi ngày. Những khi ông gặp được Ngài thì ông tỏ ra vui mừng, những khi Ngài đi giáo hóa ở phương xa thì ông tỏ vẻ buồn rầu ra mặt. Đại đức A Nan (A Nanda) băn khoăn về vấn đề này nên đã hỏi đức Phật để tìm một giải pháp hợp lý. Đức Phật chấp nhận việc trồng cây bồ đề do A Nan đề xuất để tượng trưng cho dự hiện diện của Phật. Xuất phát từ việc này mà cây bồ đề được xem như là sự hiện diện của đức Phật. Chính vì vậy cho mãi đến ngày nay khi bước chân vào bất kỳ một ngôi chùa nào trên khắp thế giới, ta đều thấy sự hiện diện của loài cây này ở một nơi trang trọng nhất trong sân chùa.
Cuối cuộc đời, khi chuẩn bị cho việc nhập Niết Bàn, đức Phật đã chọn nơi yên nghỉ là một khu rừng già hoang vắng, đó là khu rừng cây Sala của bộ tộc Malla. Trước sự việc này, Đại Đức A Nan đã thỉnh cầu đức Phật: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị phụ thuộc này, tại đô thị hoang vu này …”. Thế nhưng đức Phật đã thanh thản trả lời: “Này A Nan, chớ có nói như vậy, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thì này hoang vu …” (Kinh Trường bộ I). Trong khuynh hướng chung của con người, ai cũng thích và xem trọng những nơi phồn hoa đô hội và xem nhẹ chốn làng quê thôn dã. Nhưng đức Phật đã chọn rừng cây Sala hoang vu để từ giã cõi đời này, bởi Ngài yêu thương và luôn tôn trọng môi trường sống thiên nhiên. Ngài trân trọng thiên nhiên nên thiên nhiên cũng đã ưu ái với ngài khi tiễn đưa ngài lần cuối. Trong giời khắc thiêng liêng ấy, những cây Sa La nở hoa trái mùa, nghiêng mình và phủ lên kim thân Ngài những bông hoa, kính cẩn chào con người vĩ đại của nhân loại giây phút cuối cùng.
Khi con người tàn phá thì môi trường thiên nhiên vẫn luôn im lặng, nó không phản đối trước bất cứ một tác động nào của con người, có điều sức quật khởi mãnh liệt từ hậu quả ô nhiễm môi trường là vô cùng tàn khốc. Trên thế giới ngày nay, trước những tác nhân gây ô nhiễm môi trường như cuộc chiến tranh dầu hỏa tại vùng Vịnh, sự cố Dioxin ở Seveco ở Ý năm 1974 hay tại Việt Nam chúng ta, tại nạn lò nguyên tử tại Tschernoby Ukrain năm 1986 và vô số cuộc chìm tàu chở dầu trên các đại dương v.v . . vẫn luôn là những đề tài nóng trong những bàn hội nghị thảo luận về tương lai nhân loại.
Cách đây hơn 25 thế kỷ, đức Phật đã dạy: “Cái này hiện hữu thì cái kia hiện hữu. Cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái kia sinh. Cái này diệt thì cái kia diệt”. Nguyên lý này chỉ ra rằng, mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới và vũ trụ đều làm điều kiện cho nhau chuyển biến không ngừng nghỉ trong quá trình “sinh thành hoại diệt”. Ngài Tịch Thiên đã nhắc lại trong tập Luận “Nhập Bồ Tát Hạnh”: “Tất cả các pháp đều do các duyên khác sinh ra. Không pháp nào tự có”. Về điều này, nếu chúng ta liên hệ thì sau khi rừng thiên nhiên bị chặt trắng, sẽ dẫn đến việc toàn bộ hệ sinh thái của nó sẽ dần dần tự phục hồi trên mặt đất trống qua quá trình tự cân bằng sinh thái. Thế nhưng chúng ta cứ tiếp tục tàn phá thì hậu quả sẽ vượt ngoài khả năng tự quân bình và như thế chúng ta tự đánh mất nguồn dưỡng khí trong lành., điều này đồng nghĩa với sự hũy diệt thế giới loài người.
Để cải thiện môi trường sống của nhân loại, năm 1991 Hiệp Hội Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã có những giải pháp cấp thời nhằm “Cứu lấy Quả Đất” với chín nguyên tắc cơ bản và 132 hành động thiết thực nhằm tăng chất lượng môi trường sống của con người, có những nội dung khái quát như sau: “Mỗi dạng sống đều phải được bảo đảm quyền tồn tại, bất kể nó có giá trị như thế nào đối với con người. Sự phát triển của loài người không được đe dọa đến tính toàn vẹn của thiên nhiên và sự sống còn của các loài khác. Con người phải đối xử tử tế với tất cả các sinh vật khác và bảo vệ chúng chống lại những hành vi hung bạo, những đau đớn có thể tránh được, cũng như sự giết chóc không cần thiết”. Trước đó Albert Scheizer đã nói đủ những điều trên qua một công thức ngắn gọn : “Đạo đức là sự mở rộng trách nhiệm đến tận vô biên đối với tất cả những gì có sự sống.Về mặt tôn giáo, tình yêu thương rộng lớn như bác ái, từ bi được xem như nguyên tắc căn bản để cứu lấy Quả Đất.
Là Phật tử, ai cũng biết rằng thực hiện từ bi là thể hiện lòng thương yêu và lòng thương xót chúng sinh. Đối với cuộc khủng hoảng môi trường, tinh thần Từ Bi từ lâu đã trở thành nguyên tắc sống thiên nhiên, sống “vô hại” đối với muôn loài và địa bàn sinh sống của chúng.
Từ Bi đi chung với Hỷ Xả là bốn hạnh tu hỗ trợ nhau để diệt ác tâm và sống an lạc trong hiện tại. Xa hơn nữa, Từ Bi là một con đường sống cao đẹp đưa đến hạnh phúc và hòa bình, điều mà toàn thể nhân loại mơ ước. Từ bi cũng là một bản đồ tu tập để Phật tử thoát khỏi vòng luân hồi, một mục đích mà tất cả Phật tử đều nhắm đến. Những điều này đã được đức Phật trình bày rất hệ thống trong Kinh Từ Bi.
Nội dung của Kinh Từ Bi có thể tóm gọn như sau:
Để đạt được hạnh phúc và thoát khỏi luân hồi, Phật tử phải có đầy đủ Trí và Đức.
Thứ nhất, Phật tử cần phải tu học để phát triển trí tuệ và nhận thức.
Thứ hai, Phật tử phải mở rộng từ tâm đến tất cả mọi loài.
Thứ ba, Phật tử phải mạnh dạn lãnh trách nhiệm và hành động vì lợi ích của chúng sinh.
Thứ tư, Phật tử phải cố gắng vươn lên đạt cho được giới đưc1 và trí tuệcao vợi và dứt bỏ tham dục lạc để có thể thoát khỏi vòng sinh tử.
Trong lãnh vực môi trường, với suy nghĩ đúng theo phương pháp luận Tứ Diệu Đế, từ “khổ” sang “nguyên nhân của khổ” đến “con đường diệt khổ” và “sự chấm dứt của khổ”, người Phật tử sẽ lãnh hội dễ dàng những thông tin và nhận định đa chiều về ô nhiễm và suy thoái của môi trường… từ đó sẽ không còn mấy khó khăn để tìm ra những giải pháp, những hành động thiết thực và hợp với khả năng trong việc cải thiện môi trường. Đây là lý tưởng cùng tột nói lên giá trị nội tại bình đẳng của muôn loài. Do vậy tinh thần bất hại chứa đựng ý nghĩa biết tôn trọng khách thể, nó vừa không xâm phạm hay làm tổn hại khách thể lại vừa che chở cho khách thể. Như vậy hành động bất hại mang tính hợp tác và cộng sinh như tinh thần đức Phật đã dạy các Tỳ Kheo: “ Ví như ong lấy mật hoa, không làm hư hương sắc..”
 
5 THAY LỜI KẾT
Nhân dịp này chúng tôi xin một lần nữa truyền đạt thông điệp thiêng liêng của đức Phật đến với mọi người, đó là, dù khoa học có tiến bộ đến đâu, văn minh thời đại có đạt đến mức nào đi chăng nữa mà thiếu vắng ánh sáng giác ngộ và suối nguồn từ bi của đạo Phật thì thế giới vẫn còn tối tăm, bế tắc; loài người vẫn còn bất an đau khổ. Do vậy, chúng tôi mạo muội nghĩ rằng, trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội như khoa học, văn hóa, giáo dục, kinh tế, quận sự, chính trị, thương mại … điều nhất thiết phải lấy nền tảng đạo đức làm trọng tâm thì thế giới loài người mới có thể bình ổn và an lạc. Ngược lại, nếu thiếu nền tảng đạo đức thì xã hội sẽ băng hoại. Do đó vai trò của Phật giáo là hết sức quan trọng trong đời sống con người, nhất là trong bối cảnh thời đại.
Chúng tôi nghĩ rằng, cấp thiết mỗi cá nhân trong chúng ta cần phải nỗ lực chuyên tâm trên con đường tu tập đoạn trừ vô minh phiền não, vì đó là nguồn gốc của mọi bất an đau khổ. Trong đời sống chúng ta phải sống như thế nào để có thể tìm thấy được sự an lạc và hạnh phúc. Về đều này, đức Phật đã dạy chúng ta rằng, muốn được an lạc và hạnh phúc thì mỗi chúng ta phải xa tránh hai trạng thái cực đoan, nghĩa là chúng ta không nên sống bằng lối sống thiên về hưởng thụ, cũng không nên sống ép xác khổ hạnh quá mà phải sống theo tinh thần trung đạo. Cách sống trung đạo ở tầng bậc dễ truyền đạt cho nhau và dễ dàng giúp nhau tiếp nhận để thực hiện, đó là Bát Chánh Đạo, bao gồm: 1- Chánh kiến tức là sự hiểu biết chân chánh. 2- Chánh tư duy tức là suy nghĩ chân chánh. 3- Chánh ngữ tức là lời nói chân chánh. 4- Chánh nghiệp tức hành động chân chánh. 5- Chánh mạng tức là việc làm, nghề nghiệp chân chánh. 6- Chánh tinh tấn tức là sự nỗ lực chân chánh. 8- Chánh định tức là sư định tâm chánh. Theo đức Phật, nếu cá nhân nào thực hành được tất cả tám đạo lý cao quí này thì sẽ viên mãn được Giới- Định –Tuệ, cá nhân ấy sẽ đạt được hạnh phúc và an lạc. Mỗi cá nhân được hạnh phúc an lạc thì toàn thế giới sẽ là một thế giới hòa bình, nhân loại sẽ không còn bất an đau khổ.
Phật giáo đã có bề dày lịch sử trên 2500 năm đóng đóng góp cho sự nghiệp giải thoát của nhân loại. Là Phật tử chúng ta có quyền tự hào trước những cống hiến vô cùng lớn lao mà Phật giáo đã mang hạnh phúc và hòa bình thịnh vượng cho thế giới. Trong chiều sâu của nó và suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo mãi mãi là bài học lớn để mọi người con Phật chúng ta soi rọi lại bản thân, để học tập, tu hành, hoằng pháp, lợi sanh, tìm thấy chính mình và tìm thấy nguồn cổ vũ động viên lớn trong mọi hoạt động phụng sự đạo pháp và dân tộc.

Tin khác:
   Bài Viết
BAN TÔN GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG CHÚC MỪNG TRƯỜNG TRUNG CẤP PHẬT HỌC TỈNH NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11

Ngày 16/11/2017, Ban Tôn giáo tỉnh Bình Dương vừa tổ chức đến thăm và chúc mừng Trường Trung cấp Phật học Bình Dương nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11. Tiếp đoàn có Ban Giám hiệu, các vị giảng sư, giáo thọ sư, đông đảo tăng, ni sinh khóa IV và một số cựu tăng, ni sinh khóa III Trường Trung cấp Phật học Bình Dương.

Bình Dương: Trường Trung cấp Phật học tổ chức lễ Nhà giáo Việt Nam 20 – 11

Sáng ngày 16/11/2017 (nhằm ngày 27/09/ Đinh Dậu), nhằm thể hiện tinh thần tri ân và báo ân đối với người thầy khai mở con đường tri thức, tăng ni sinh trường Trung Cấp Phật học tỉnh Bình Dương, khóa VI đã hân hoan tổ chức Lễ tri ân đến CTĐ Ban Giám Hiệu trường, Ban Giảng huấn nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20/11.

Lễ trao học bổng cho các Tăng Ni sinh Trường TCPH tỉnh Bình Dương

Sáng ngày 15/11/2017 (27/09/ Đinh Dậu) tại Trường Trung Cấp Phật học Bình Dương, khóa IV đã long trọng tổ chức lễ trao học bổng Như Trạm- Tịch Chiếu, Nhật Minh- Huệ Thông cho 30 Tăng Ni sinh có thành tích khá giỏi trong học tập đang theo học tại trường.

LÃNH ĐẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG GẶP GỠ ĐOÀN ĐẠI BIỂU PHẬT GIÁO TỈNH TRƯỚC ĐẠI HỘI PHẬT GIÁO TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII

Ngày 15/11/2017, tại chùa Hội An, Văn phòng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương, đoàn đại diện lãnh đạo tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Văn Lộc, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy làm Trưởng đoàn đã có cuộc gặp gỡ với đoàn đại biểu Phật giáo tỉnh trước khi đi dự Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII tại Thủ đô Hà Nội. Tham gia cuộc gặp còn có lãnh đạo Ủy ban Mặt trận TQVN tỉnh, Sở Nội vụ và Ban Tôn giáo tỉnh.

Lễ Tưởng Niệm Cố HT.Thích Minh Thiện

Sáng ngày 13/11/2017 (nhằm 25/09/ Đinh Dậu), tại chùa Núi Châu Thới, TX.Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã trọng thể diễn ra lễ tưởng niệm lần thứ 6 Cố HT.Thích Minh Thiện, Nguyên Ủy viên HĐTS Trung ương GH, Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương viên tịch (25/09/ Tân Mão – 25/09/ Đinh Dậu).

Bình Dương: Đại lễ cầu siêu các nạn nhân tử vong do Tai nạn giao thông

Sáng ngày 11/11/2017 (nhằm ngày 23/09/ Đinh Dậu) Trung ương GHPGVN, BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia long trọng tổ chức Đại lễ cầu siêu các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại chùa Hội An, P.Hòa Phú, TP.TDM, tỉnh Bình Dương.

Chùm ảnh: Trước ngày diễn ra Đại lễ cầu siêu các nạn nhân tử vong do TNGT

Với thông điệp “Tưởng nhớ người đi – Vì người ở lại”, Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại Việt Nam năm 2017 sẽ chính thức diễn ra vào ngày mai 11/11/2017, tại chùa Hội An, tỉnh Bình Dương.

Bình Dương: Họp báo công bố kế hoạch tổ chức Đại lễ cầu siêu các nạn nhân tử vong do TNGT 2017

Sáng ngày 02/11/2017 ( nhằm ngày 14/09/Đinh Dậu), tại hội trường chùa Hội An, P.Hòa Phú, TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Ban tổ chức Đại lễ cầu siêu các nạn nhân tử vong do tai nạn Giao thông 2017 đã tổ chức buổi họp báo để thông tư đến giới truyền thông về Nội dung chương trình Đại lễ diễn ra vào ngày 11/11/2017.

Ban Trị sự GHPHVN tỉnh Bình Dương họp triển khai công tác tổ chức Đại lễ Cầu siêu các nạn nhân tử vong do TNGT năm 2017

Sáng ngày 21/10/2017 (nhằm ngày mùng 02/09/Đinh Dậu) tại Trunng tâm văn hóa tượng Phật Niết bàn (Chùa Hội Khánh), TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã diễn ra cuộc họp triển khai các công tác chuẩn bị tổ chức Đại lễ cầu siêu cho các nạn nhân tử vong do TNGT.

Bình Dương: Họp triển khai công tác tổ chức Đại lễ Cầu siêu các nạn nhân tử vong do TNGT năm 2017

Sáng ngày 20/10/2017 (nhằm ngày mùng 01/09/Đinh Dậu) tại chùa Hội An, P.Hòa Phú, TP.TDM, tỉnh Bình Dương đã diễn ra cuộc họp giữa Ủy ban ATGTQG, Trung Ương GHPGVN và BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương để triển khai các công tác chuẩn bị tổ chức Đại lễ cầu siêu cho các nạn nhân tử vong do TNGT năm 2017.

van nghe chao mung hoi thao hoang phap 2011
Vững niềm tin Phật - Clip13
Xem thêm >>